Mấy tiếng “chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh” còn chưa quen thuộc lắm đối với người Công Giáo ở Việt Nam, ngay cả đối với nhiều giáo sĩ. Tuy nhiên, thực tại chứa đựng trong từ ngữ này thì không phải là điều gì quá lạ lẫm. Đó là một phong trào của những người Tin Lành chống lại duy tân thuyết, chủ trương chính thống cực đoan, bám chặt vào một số điều cơ yếu, giải thích các bản văn Sách Thánh trên cơ sở nghĩa đen. Phong trào này dấy lên và phát triển tại Mỹ trong thế kỷ 20, hiện nay không những còn tiếp tục có sức ảnh hưởng lớn đến xã hội Mỹ mà còn đang thâm nhập mạnh mẽ vào bất cứ nơi nào có sự hiện diện – vốn đầy tác động – của những người theo chủ nghĩa này.
Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa, song rõ ràng không phải mọi Kitô hữu đều đọc và hiểu Thánh Kinh một cách giống như nhau. Nhiều người Công Giáo gặp không ít băn khoăn khi nghe các Kitô hữu khác giải thích Thánh Kinh theo cách tiếp cận của họ, và nhất là khi bị họ chất vấn về một số thực hành rất thông thường trong Giáo Hội Công Giáo mà họ cho là kỳ cục (chẳng hạn, xem Truyền Thống như một nguồn mạc khải, sùng kính Đức Maria và các thánh, rửa tội cho các em bé, xưng tội với linh mục, gọi linh mục là “Cha”, có một Giáo Hoàng và vị Giáo Hoàng này có thể bất khả ngộ, vv…)
Ngày nay, ngoài những phương tiện truyền thông sẵn có như truyền thanh, truyền hình, sách báo và các dạng ấn phẩm khác, còn có sự phổ cập của xa lộ thông tin internet, làm cho người ta hầu như có thể nghe, đọc ‘bất cứ cái gì và bất cứ của ai’. Nỗi băn khoăn nói trên nơi nhiều người Công Giáo càng được khoét sâu hơn nữa – bởi những người cơ yếu vốn rất mạnh trong việc vận dụng các phương tiện truyền thông, chưa kể họ luôn luôn tích cực khai thác triệt để phương tiện cổ điển nhất là tiếp xúc cá nhân và thuyết phục trực tiếp. Tình trạng này đặt ra một nhu cầu mục vụ đầy cấp bách cho các mục tử Giáo Hội Công Giáo.
Thật vậy, bên cạnh việc ‘bếp núc’ là thực hiện những bản dịch Thánh Kinh có chất lượng, lo liệu việc in ấn và phát hành sao cho những quyển Sách Thánh có thể đến tay đại chúng với giá ‘mềm’, còn có một công việc rất quan trọng khác mà chúng ta phải làm – nhưng xem ra còn bất cập – đó là giúp cho các tín hữu biết cách đọc và giải thích sao cho có thể nhận đúng sứ điệp mà Thiên Chúa muốn trao gửi qua bản văn Sách Thánh. Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa, vâng, nhưng ở đây Lời Thiên Chúa ẩn chứa trong một mớ chữ, trong ngôn ngữ của con người. Nếu không lưu tâm đủ đến vấn đề phải đọc Thánh Kinh như thế nào thì vô tình niềm xác tín “Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa” có thể trở thành một thứ cạm bẫy cho người ta – như điều được ghi nhận nơi những người theo chủ nghĩa cơ yếu.
Cha Ronald D. Witherup, một linh mục Xuân Bích hiện là Bề Trên Giám Tỉnh Tỉnh Hoa Kỳ, đã nhấn mạnh tiêu điểm trên đây xuyên suốt tập sách này, kèm với những minh họa thực tế từ kinh nghiệm bản thân của Cha trong tư cách là một giáo sư Thánh Kinh đã từng có nhiều hoạt động thuyết trình, hội thảo tại Hoa Kỳ và tại nhiều nước khác trên thế giới. Tôi tin rằng những mối quan tâm của Cha ở đây cũng rất ‘nóng’ cả đối với chúng ta nữa – là những người Công Giáo tại Việt Nam, cách riêng những người có trách nhiệm mục vụ. Thể theo yêu cầu của tôi, Cha Witherup đã sẵn sàng cho phép tác phẩm được chuyển sang Việt ngữ để phục vụ giới Công Giáo Việt Nam. Xin chân thành cám ơn ngài và xin thân ái giới thiệu bản Việt ngữ này với các độc giả quan tâm.
Bước vào ngàn năm thứ ba của Kitô giáo, thật đáng ngạc nhiên khi chúng ta nhận thấy hàng lố vấn đề tiếp tục khơi lên sự bất đồng giữa các Kitô hữu xung quanh một số yếu tố căn bản của đức tin. Thánh Kinh là một vấn đề như vậy. Thánh Kinh nên được đọc và giải thích như thế nào? Đây vẫn là dấu hỏi còn rất nóng hổi giữa những người cùng chia sẻ niềm tin vào Chúa Kitô.
Các dữ kiện xã hội học cho thấy rằng chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh[1] đã thâm nhập vào nhiều người Công Giáo trong những năm gần đây. Một số người Công Giáo thèm khát làm sao cho Thánh Kinh trở thành một yếu tố thiết cốt hơn trong đức tin và trong đời sống hằng ngày của mình đến nỗi họ không cảm nhận được vấn đề gì liên quan đến cách tiếp cận Thánh Kinh của chủ nghĩa cơ yếu. Đối với nhiều người khác, khi gặp gỡ những người theo chủ nghĩa cơ yếu, các vấn đề thường sẽ bật lên và khơi dậy hàng lố vấn nạn kèm theo một tình trạng bất an tận gốc rễ về căn tính Công Giáo của mình.
Trong mười lăm năm qua, khi tiếp xúc và trao đổi với người Công Giáo trên khắp đất nước này, tôi đã thường xuyên được yêu cầu đề cập đến các vấn đề phát xuất từ hiện tượng chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh. Quyển sách trên tay bạn là kết quả của những cuộc gặp gỡ đó. Tôi tin rằng tập sách này sẽ là một thủ bản hữu dụng cho những người Công Giáo vừa thao thức nhiều vừa hoang mang về những vấn nạn đặt ra khi họ ước ao ứng dụng “Quyển Sách Vàng”[2] vào đời sống riêng của mình. Tập sách này cũng có thể hữu ích cho những anh chị em Tin Lành muốn hiểu tốt hơn về cách tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo Rôma.
Tôi chân thành tri ân tất cả các cựu sinh viên của tôi và các thính giả đã giúp tôi hình thành cho mình câu trả lời đối với chủ nghĩa cơ yếu. Tôi cám ơn nhiều học giả có những công trình mà tôi tham khảo; sở dĩ tôi không thể liệt kê đầy đủ danh tánh các vị là do tính chất phổ thông của khảo luận này. Khi viết quyển sách này, tôi đặc biệt tưởng nhớ đến một trong các giáo sư Kinh Thánh đầu tiên của tôi, Tiến sĩ A. Vanlier Hunter, Jr., người đã tạo nguồn cảm hứng dồi dào cho một thế hệ chủng sinh Công Giáo tại chủng viện và Đại Học St. Mary ở Baltimore. Giáo sư Van – các học trò gọi người thân mật như thế – đã qua đời sớm vì bệnh ung thư sau gần hai mươi năm trong sứ vụ một mục sư Giáo Hội Trưởng Lão và một học giả Thánh Kinh nội trú của một chủng viện Công Giáo Rôma. Bối cảnh truyền thống Cải Cách của người, một truyền thống gắn chặt với Lời Thiên Chúa, đã tạo điều kiện thuận tiện cho người trong lãnh vực này, trong tư cách vừa là một giáo sư Kinh Thánh vừa là một phó chủ nhiệm của khoa Đại Kết. Người từng là một nhà đại kết nhiệt thành. Tôi đã học được nơi người rất nhiều về tinh thần bao dung và đối thoại, nhưng tôi cũng học biết cách làm cho Thánh Kinh trở nên sống động trong giảng thuyết và trong trường lớp. Người đã khuất, nhưng tấm gương nhiệt thành, dấn thân và nét hiền hòa trong giáo huấn của người vẫn còn sống động mãi đối với tôi.
Tôi cũng cám ơn Giáo sư Paul Zilonka, C.P., đã sẵn lòng đọc bản thảo và có những đề nghị bổ ích, và tiến sĩ Cecil White, người quản thủ thư viện thuộc Giáo Hội Báp-tít tại chủng viện St. Patrick ở Menlo Park, California – đã giúp tôi rất nhiều qua các cuộc trao đổi và qua những hỗ trợ chuyên môn. Trong khi tôi tin rằng sự đóng góp của các vị chắc chắn đã cải thiện quyển sách, tôi cũng tin rằng bất cứ khuyết điểm nào của tập sách này cố nhiên thuộc về tôi. Cuối cùng, tôi hết lòng tri ân Mark Twomey, Peter Dwyer, và toàn ban biên tập của The Liturgical Press, đã sốt sắng hỗ trợ và khích lệ tôi trong dự án này. Sự giúp đỡ của các vị đã tạo điều kiện dễ dàng hơn, giúp tôi hoàn thành công việc đưa ra một bản thảo ngắn gọn và súc tích.
========
[1] Biblical fundamentalism: (tựa đề của sách này trong nguyên tác), qui chiếu đến một cách tiếp cận Thánh Kinh có tính cực đoan, được ghi nhận nơi nhiều phái Tin Lành. Nguồn gốc và các đặc điểm của chủ nghĩa này sẽ được trình bày ngay trong các chương 1 và 2 sau đây. (Chú thích của người dịch)
[2] tức Sách Kinh Thánh. (c.t.c.n.d.)
Hồi tôi lớn lên vào thập niên 1950, việc một người Công Giáo đối kháng giáo thuyết Công Giáo với giáo thuyết Tin Lành là chuyện rất tự nhiên và rất phổ biến. Các tín hữu Tin Lành lấy Thánh Kinh làm chỉ nam; còn người Công Giáo thì lấy các bí tích. Nói chung, các tín hữu Công Giáo của chúng ta mù tịt về Thánh Kinh. Chúng ta đặt điểm tựa nơi các giáo huấn của Giáo Hội – hầu hết được truyền đạt qua các bài giảng lễ Chúa Nhật và các lớp giáo lý.
Công Đồng Vatican II (1962-1965) đã thay đổi tất cả. Đức Gioan XXIII triệu tập một công đồng chung toàn thế giới, sự kiện này đã mở toang các cánh cửa của Giáo Hội để đón luồng gió mới aggiornamento – canh tân triệt để. Một trong những thay đổi có ý nghĩa nhất được Công Đồng thực hiện chính là việc trực tiếp cổ võ các tín hữu Công Giáo khám phá lại Thánh Kinh. Vatican II đem lại cho người Công Giáo một cuộc cách mạng thực sự trong cách nhìn đối với Thánh Kinh và cách ứng dụng Thánh Kinh vào đời sống. Thánh Kinh không còn bị bỏ quên trên kệ sách, không còn chỉ là chuyện tán gẫu bên tách cà phê, cũng không còn bị đóng khung trong các tu viện. Thánh Kinh cũng không còn chỉ được sử dụng chủ yếu để điểm xuyết cho các biến cố bí tích của đời sống người Công Giáo như lễ Rửa Tội, lễ Cưới, lễ Tang… Thánh Kinh đã bắt đầu đóng một vai trò nổi bật trong đời sống người Công Giáo.
Chính phụng vụ phản ảnh sự thay đổi ngoạn mục này. Giáo Hội biên soạn lại và cập nhật Sách Bài Đọc cũ (là sách bài đọc chính thức của Giáo Hội trong năm phụng vụ) – đây là một phần của cuộc canh tân phụng vụ trong Giáo Hội. Giờ đây, Sách Bài Đọc là một bộ tuyển phong phú các bản văn lấy từ cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, được công bố trong Thánh Lễ qua mỗi chu kỳ ba năm phụng vụ. Các bài đọc này đưa người tín hữu Công Giáo vào các bản văn mà trước đây họ chưa bao giờ đụng tới và ít khi được nghe đọc trên giảng đài. Người Công Giáo bắt đầu có khẩu vị tốt hơn đối với Thánh Kinh và, thật may mắn, các học giả Thánh Kinh Công Giáo vốn âm thầm vun đắp các công trình của mình trong nhiều thập niên trước nay đã bắt đầu xuất bản và thuyết trình rộng rãi về Thánh Kinh.
Các nhóm nghiên cứu Thánh Kinh xôn xao nở rộ, nhưng nhiều giáo xứ Công Giáo không thể đáp ứng kịp với khát vọng của người tín hữu muốn hiểu biết Thánh Kinh nhiều hơn. Nhiều tín hữu Công Giáo bị cuốn hút bởi các nhóm nghiên cứu Thánh Kinh ngoài Công Giáo, một số trong đó là những người thuộc khuynh hướng tiếp cận Thánh Kinh theo chủ nghĩa cơ yếu, và đôi khi đó là những người có thái độ chống đối Công Giáo cách dữ dội. Các tín hữu Công Giáo rất thường xuyên gặp những người theo chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh như thế, dù họ có nhận ra hay không.
Khi thúc đẩy các tín hữu Công Giáo quan tâm đến Thánh Kinh, Vatican II đã tạo nên một thực tại hai mặt. Một mặt tích cực củng cố sự thực rằng người Công Giáo cũng là những Kitô hữu chấp nhận Thánh Kinh là Lời của Thiên Chúa cung cấp các hướng dẫn luân lý cho đời sống Kitô hữu. Người Công Giáo chúng ta được thúc đẩy làm quen với Thánh Kinh. Thánh Kinh cũng là cuốn sách của chúng ta nữa. Thế nhưng còn một mặt khác của thực tại, đó là việc dạy Thánh Kinh xét chung tỏ ra khập khiễng và bất cập, không theo kịp lòng khao khát của người tín hữu Công Giáo muốn khám phá Thánh Kinh và các mầu nhiệm ẩn chứa trong đó. Thêm vào đó, một số tín hữu Tin lành thuộc phái duy Tin Mừng đã ào ạt nhắm đến những người Công Giáo bất mãn để dụ hoặc họ theo giáo phái của mình và theo cách mà mình tiếp cận Thánh Kinh. Kết quả là khát vọng chính đáng kia đối với Thánh Kinh đôi khi bị lung lạc bởi những chỉ dẫn không đúng đắn, nhất là từ nhãn quan của chủ nghĩa cơ yếu.
Ở đây tôi tưởng cần cảnh giác bạn đọc một điều. Tôi không có ý muốn đổ thêm dầu vào đống lửa đối đầu đang bốc lên ngùn ngụt giữa một bên là những người Tin Lành duy Tin Mừng theo chủ nghĩa cơ yếu và bên kia là những người Công Giáo đầy sợ hãi và hoang tưởng. Một số người có thể chống đối chủ nghĩa cơ yếu bằng một cách thế vừa chẳng Kitô giáo chút nào vừa tự bôi bác. Họ chế giễu rằng những người theo chủ nghĩa cơ yếu là những người tin mù quáng và dốt nát, những người o ép Thánh Kinh cho hợp với mình. Không cần phải nêu đích xác danh tánh và trưng dẫn cách cạn tàu ráo máng ở đây, mặc dù hiện tượng ấy được ghi nhận đôi khi ở cả hai bên bức chắn. Trong kinh nghiệm của tôi, chủ nghĩa cơ yếu có thể hiện lộ qua nhiều hình thức. Chúng ta có khuynh hướng phạm trù hóa nó như một phong trào bảo thủ cực đoan, trong khi thực tế có những hình thức chủ nghĩa cơ yếu rất tự do song cũng cứng nhắc và lì lợm không kém chi so với những người thuộc phái bảo thủ cánh hữu. Tôi sẽ cố gắng để vượt qua khuynh hướng phạm trù hóa quá đơn giản như thế..
Tôi cố gắng xoáy vào vấn đề bằng cách nào giáo thuyết Công Giáo có thể tương tác với chủ nghĩa cơ yếu trong một tinh thần vô tư không thành kiến. Tuy nhiên, tôi phải nhìn nhận rằng chính tôi cũng thấy chủ nghĩa cơ yếu là một vấn đề gay go. Trong các chuyến đi thuyết trình của mình ở Mỹ và ở các nước khác, tôi đã phải trực tiếp đương đầu với chủ nghĩa này. Nó là một vấn đề nghiêm trọng đặt ra cho các tín hữu Công Giáo trong cuộc sống hằng ngày của họ. Tại một số vùng Phi Châu tôi đã cảm nhận được những công kích của phái Phục Lâm Hưu Nhật[1] đối với đức tin Công Giáo và những vấn nạn mà giáo phái này khơi lên trong tâm trí của những ai phải sống trong một môi trường như thế. Ở Mỹ Latinh và Nam Mỹ, tôi đã nghe nói và ngay cả chứng kiến một số nhóm theo chủ nghĩa cơ yếu và duy Tin Mừng cố gắng lôi kéo các tín hữu Công Giáo bỏ đức tin của mình. Họ vạch ra những điểm mà họ cho là những điểm dở của giáo thuyết Công Giáo – chẳng hạn họ cho rằng Công Giáo phản Thánh Kinh và phi Kitô giáo. Ngay tại nhiều vùng ở Hoa Kỳ, tôi đã chứng kiến sức ảnh hưởng của những người cơ yếu Thánh Kinh và bao nghi vấn mà khoa hùng biện của họ khơi lên trong tâm trí nhiều người Công Giáo.
Hầu như trong tất cả các buổi thuyết trình về Thánh Kinh mà tôi thực hiện kể từ giữa thập niên 1980, tôi đều nghe các thính giả Công Giáo yêu cầu giúp họ biết cách trả lời câu hỏi này hay câu hỏi nọ được các bạn bè, bà con, hàng xóm theo chủ nghĩa cơ yếu đặt ra cho họ. Đó là những câu hỏi đại loại như: “Thưa cha, con phải nói sao khi người ta hỏi con: ‘Phải chăng ông đã được cứu độ?’”, hay “Con phải giải thích sao cho các bạn con về lý do con tin vào đức Giáo Hoàng ?” hoặc “Các bạn con nói rằng người Công Giáo sẽ không lên thiên đàng vì người Công Giáo không chấp nhận Đức Giêsu Kitô là Đức Chúa và là Đấng Cứu Độ của cá nhân mình.” Chí ít thì ngôn ngữ của chủ nghĩa cơ yếu là một thứ ngôn ngữ lạ hoắc và thường làm cho người Công Giáo cảm thấy khó chịu. Kèm theo đó là tình trạng hết sức ấm ớ về nội dung Thánh Kinh, khiến một số người Công Giáo càng dễ đi vào một nỗi ngờ vực nào đó vốn có thể, và thực sự, dẫn họ đến tình trạng dao động tôn giáo thực sự.
Theo nhận định của tôi, việc giúp cho người Công Giáo nghĩ đúng đắn về Thánh Kinh là một nhu cầu mục vụ cấp bách. Tôi gặp rất nhiều người Công Giáo không cảm thấy hài lòng với sự hiểu biết của họ về Thánh Kinh, nhất là khi họ nghe những gì mà các bạn bè Tin Lành của họ nói. Nắm vững Thánh Kinh, đó không phải là điểm mạnh của chúng ta. (Song cần nói thêm: các đồng nghiệp Tin Lành cho tôi biết rằng người tín hữu Tin Lành bình dân cũng chẳng am hiểu Thánh Kinh nhiều như chúng ta vẫn tưởng). Thực tế là nền văn hóa Mỹ hiện nay đang trình bày Thánh Kinh cho đại chúng bằng những cách thế xem ra hấp dẫn nhưng cũng rất ngớ ngẩn. Tôi xin nêu ra đây vài ví dụ vắn tắt.
Thật không thể đi lại bằng ô tô bất cứ nơi đâu trên đất Mỹ mà không vặn radiô lên và nghe những người giảng phúc âm rao giảng sứ điệp của họ – thường là giảng về những điều xấu xa gian ác của thời đại chúng ta. Các nhà giảng phúc âm trên truyền hình cũng sôi nổi không kém. Đa số họ là những người tiếp cận Thánh Kinh và Kitô giáo theo chủ nghĩa cơ yếu, và một số trong họ đưa ra những sứ điệp chống đối Công Giáo cách dữ dội, gợi lại giai đoạn lịch sử đối kháng ác liệt của phong trào Cải Cách Tin Lành.
Còn một loại độc đoán Thánh Kinh nữa đang tác động trong xã hội chúng ta. Ở các siêu thị, tôi thường xuyên bắt gặp những tờ bướm nhỏ với các tựa đề giựt gân nói rằng Thánh Kinh tiên báo một mùa đông khốc liệt đang đến, hay chứa một công thức giúp cho người ta trúng xổ số, hay có một mật thư tiên báo một số biến cố nào đó của thế giới như vụ ám sát thủ tướng Israel Yitzak Rabin, hoặc dự báo một tai họa nào đó sắp giáng xuống miền nam California. (Tại sao lại California nhỉ? Ở California thường động đất, có lẽ?) Chuyên biệt hơn nữa, Thánh Kinh được viện dẫn để ủng hộ án tử hình dựa vào cơ sở quan niệm Cựu Ước rằng “mắt đền mắt, răng đền răng”, hay để phản đối việc phụ nữ có mặt nơi công sở hay trong chính trị, vì Thánh Kinh nói rằng chỗ của phụ nữ là ở trong nhà! Người ta trưng thẩm quyền Thánh Kinh ra như là thánh ý trực tiếp của Thiên Chúa phải được tối mặt tuân theo đúng sát chữ, mặc dầu họ giải thích một cách chọn lọc, dĩ nhiên.
Đã có thời người Công Giáo cảm thấy hết sức lúng túng không biết giải thích làm sao cho các bạn bè không Công Giáo của mình lý do tại sao Giáo Hội mình có vẻ không phù hợp với Thánh Kinh. Tại sao chúng ta có một Giáo Hoàng trong khi Thánh Kinh chẳng đề cập gì đến chức Giáo Hoàng cả? Tại sao người Công Giáo “tôn thờ” Đức Ma-ri-a và các thánh (chúng ta không tôn thờ, nhưng tôi sẽ giải thích vấn đề này sau) trong khi Thánh Kinh bảo rằng chỉ nên tôn thờ một mình Thiên Chúa mà thôi? Tại sao người Công Giáo gọi các linh mục của họ là “Cha” trong khi Thánh Kinh rõ ràng cấm điều này (cũng sẽ bàn đến sau)?. Nói tóm, có một yêu cầu mục vụ thực tế cần được đáp ứng thích đáng. Chúng ta cần làm một cái gì đó hơn là chỉ rùng mình trước một hiện tượng mà chúng ta không hiểu và xem chừng sợ hãi nữa. Thánh Kinh được sử dụng và bị lạm dụng trong xã hội của chúng ta, và người tín hữu Công Giáo cần có khả năng xử lý các tình huống một cách biết điều.
Hồi thập niên 1980, các giám mục Mỹ đưa ra một tuyên bố ghi nhận rằng người Công Giáo đang bước vào tiếp xúc với chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh và rằng hiện tượng này đặt ra một vấn đề mục vụ khẩn cấp (x. thư mục tham khảo). Trong nhiều trường hợp, tính đơn giản có vẻ rất lôgic của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh đã tỏ ra bất khả đề kháng. Người Công Giáo tại Mỹ và ở nước ngoài đã bị lôi cuốn khỏi Giáo Hội và đi vào những cộng đoàn theo chủ nghĩa cơ yếu. Các giám mục Công Giáo tại Mỹ Latinh, chẳng hạn, đã được báo động về con số những người Công Giáo tham gia các nhóm cơ yếu của giáo phái duy Tin Mừng. Tại nhiều khu vực ở Châu Phi, tình hình cũng tương tự.
Quyển sách này nhằm cung ứng một câu trả lời ngắn gọn nhưng bao quát cho các vấn nạn mà người Công Giáo gặp liên quan đến chủ nghĩa cơ yếu. Quyển sách không đề cập đến chủ nghĩa cơ yếu nói chung, như các biểu hiện của nó trong nhiều tôn giáo khác của thế giới (ví dụ, những người Hồi giáo hay Do thái giáo cơ yếu – tức bảo thủ cực đoan), nhưng chỉ bàn đến chủ nghĩa cơ yếu trong cách tiếp cận Thánh Kinh mà thôi. Mục đích của sách gồm ba mặt: (1) trình bày các nguồn gốc và các chủ trương chính của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh, (2) so sánh và đối lập nhãn quan Công Giáo về Thánh Kinh với nhãn quan của chủ nghĩa cơ yếu, và (3) đưa ra lời khuyên thực tiễn và đề xuất các sự trợ giúp cho người Công Giáo biết ứng phó với chủ nghĩa cơ yếu.
Quyển sách gồm năm chương. Chương thứ nhất trình bày các nguồn gốc lịch sử của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh Kitô giáo và giải thích tại sao hiện nay nó là một hiện tượng độc đáo ở Mỹ. Chủ nghĩa cơ yếu là một từ có thể được gán cho nhiều hiện tượng khác nhau. Vì thế rất cần phải biết, cách riêng, chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh có nghĩa gì, nó phát xuất từ đâu, và tại sao nó tồn tại. Chương 2 phác họa các nhân tố chính của đức tin nơi những người cơ yếu và mô tả cách mà họ tiếp cận Thánh Kinh. Chương 3 cũng làm công việc đó, nhưng trong nhãn quan Công Giáo về Thánh Kinh – (hay “Sách Thánh”, theo cách mà chúng ta vẫn hay gọi). Theo sự ghi nhận của tôi, nhiều người Công Giáo chúng ta hơi kém hiểu biết giáo huấn của Giáo Hội về Thánh Kinh. Nếu người Công Giáo muốn không gặp bối rối với các bản văn Lời Chúa, trước hết họ phải biết những gì Giáo Hội dạy về Thánh Kinh và biết cách đọc Thánh Kinh. Chương 4 sẽ đưa ra một giải thích về lý do tại sao chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh tỏ ra hấp dẫn trong thời đại chúng ta, và đồng thời có một phê bình về điều này. Tôi có ý đánh giá chủ nghĩa cơ yếu một cách ‘phi bút chiến’, trong đó tôi ghi nhận cả những điểm mạnh và những điểm yếu của chủ nghĩa này. Cuối cùng, chương 5 đưa ra một số lời khuyên thực tiễn cho người Công Giáo về cách thế ứng phó với chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh. Phần thư mục tham khảo ngắn ở cuối sách, liệt kê các tài liệu chọn lọc để phục vụ cho việc nghiên cứu xa hơn, sẽ giúp một định hướng cho những ai ước ao tự khám phá thêm về chủ đề này.
======================================
[1] Seventh Day Adventist, phái mạnh nhất trong Giáo Hội Phục lâm, do bà E.G. White (1827-1915) sáng lập, chủ trương Đền Thờ không phải ở dưới đất mà là ở trên trời, và nên giữ lại ngày Sa-bát Do thái. (c.t.c.n.d.)
Chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh là một hiện tượng đa dạng không phải bỗng dưng từ trên trời rơi xuống. Nhiều gốc rễ thâm sâu trong lịch sử đã góp phần định hình nó như hiện nay. Không xem nhẹ tính phức tạp này, chúng ta cần mô tả nó một cách chính xác, biện phân các nguồn gốc, và hiểu tại sao nó tồn tại.
Chủ nghĩa cơ yếu là một thực tại phức tạp hơn nhiều so với những gì ta nhận thấy qua các nhà thuyết giảng Phúc Âm trên radiô hay truyền hình. Tuy nhiên có thể nêu một mô tả căn bản cho chủ nghĩa này, có lẽ khá quen thuộc với phần đông chúng ta, một mô tả thường được áp dụng rộng rãi và được chấp nhận bởi chính những người theo chủ nghĩa này. George Marsden, một thần học gia Tin Lành lỗi lạc và là một chuyên gia về phong trào cơ yếu, đã mô tả chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh một cách căn bản như sau:
…[đó là một] chủ trương duy Tin Mừng Tin Lành chiến đấu kịch liệt chống duy tân…., một liên hiệp rộng thoáng, đa dạng và biến hóa của những người bạn chiến đấu hợp nhất với nhau trong tinh thần chống đối mạnh mẽ các cố gắng của những người duy tân muốn hội nhập Kitô giáo vào trong tư tưởng hiện đại.[1]
Ơng cũng có phỏng lại một mô tả rằng một người cơ yếu là “một nhà thuyết giảng Phúc Âm tức giận về một cái gì đó”.[2] Marsden nhấn mạnh rằng giữa những yếu tố khác như duy Tin Mừng, cầu nguyện, sự thánh thiện cá nhân, và việc trao các sứ mạng là những đặc điểm chủ nghĩa cơ yếu, thì sắc thái nổi bật nhất của nó nằm ở chỗ nó kịch liệt phản đối tính hiện đại. Jerry Falwell, nhà lãnh đạo của phái cơ yếu Báp-tít đầy tên tuổi và là người đã thành lập phái Đại Chúng Đạo Đức (the Moral Majority) vào cuối thập niên 1970, cùng với các đồng sự của mình, ông đồng ý với việc đặc điểm hóa chủ nghĩa cơ yếu là “phong trào của thế kỷ 20 gắn chặt với truyền thống thức tỉnh đức tin của xu hướng Tin Lành duy Tin Mừng vốn kịch liệt chống đối thần học duy tân và những thay đổi xã hội gắn liền với thần học đó”.[3] Một cách thiết yếu, những người cơ yếu tự coi mình là những chiến sĩ đang bảo vệ Kitô giáo đích thực chống lại các sự dữ của đời sống hiện đại. Tính hiện đại là kẻ thù lớn. Nó phá hoại các giá trị Kitô giáo truyền thống và phải bị chống trả quyết liệt bởi những Kitô hữu trung thành. Nói tắt, nó là vũ khí của Satan – kẻ thù nghịch tất cả những gì thanh cao và tốt lành.
Hầu như từng chữ trong định nghĩa súc tích của Marsden đều rất quan trọng để giúp hiểu chủ nghĩa cơ yếu. Mấy chữ “chiến đấu kịch liệt” nói lên khát vọng nơi những người cơ yếu muốn tác động tích cực đến sự chuyển biến chính trị đồng thời vạch chiến lược và tổ chức một cách kỹ lưỡng. Họ tự xem họ là đạo binh của Thiên Chúa có nhiệm vụ bảo vệ sự thật và phong cách Mỹ (theo như họ hiểu). Thế nhưng, ta ghi nhận một điều nghịch lý, đó là một số giá trị Mỹ lại gắn chặt với chủ nghĩa cơ yếu (đề cao cá nhân, tự do …). Về xã hội và chính trị thì chủ nghĩa cơ yếu rõ ràng gắn bó mật thiết với nền văn hóa Mỹ. Đồng thời rất nhiều những ý tưởng hiện đại, bị phản kháng bởi những người theo chủ nghĩa cơ yếu, là những ý tưởng vốn phát xuất từ lối sống Mỹ. Lập trường chống duy tân giải thích khuynh hướng của chủ nghĩa cơ yếu vừa chống lại những phát triển hiện đại vừa lý tưởng hóa quá khứ. Cách riêng họ lý tưởng hóa cộng đoàn Kitô hữu sơ khai như được mô tả trong Tân Ước, nhất là Sách Công Vụ Tông Đồ. Trong cách nhìn của họ, những phát triển hiện đại đã làm hư hỏng tổ chức Kitô giáo tinh khôi thời nguyên thủy. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu tin rằng họ phải đem cộng đoàn Kitô giáo trở về với những sắc thái tinh khôi của buổi phôi thai Kitô giáo. Trở về với “các nền tảng cơ yếu” là khẩu hiệu đấu tranh của họ. “Hãy cho tôi tôn giáo của thời xưa”, đó là một biểu ngữ được ưa thích khác.
Đặc tính Tin Lành duy Tin Mừng của chủ nghĩa cơ yếu cũng rất quan trọng. Các chuyên gia nghiên cứu chủ nghĩa cơ yếu trên khắp thế giới đã ghi nhận sắc thái độc đáo của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh Mỹ được cắm rễ không chỉ trong tư tưởng Tin Lành nói chung mà cách riêng là trong phái duy Tin Mừng. Tuy nhiên, chúng ta cần ghi nhận rằng trong khi tất cả những người theo chủ nghĩa cơ yếu đều duy Tin Mừng, thì không phải tất cả những người duy Tin Mừng đều theo chủ nghĩa cơ yếu. Phái duy Tin Mừng, chiếm khoảng 25% các nhóm Tin Lành ở Mỹ, bao gồm rất nhiều phương pháp tiếp cận Thánh Kinh khác nhau. Một số là những người thuộc phái Ngũ Tuần nhấn mạnh đến hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống của họ – và nhấn mạnh các đặc sủng được Thánh Thần đổ tràn, như chữa bệnh, nói tiên tri, nói tiếng lạ (từ chuyên môn gọi là “glossolalia”). Những người khác thuộc các nhóm “thánh thiện” như Giáo Hội Nazarene và Giáo Hội của Thiên Chúa, nhấn mạnh đến một số phương diện cá nhân và có tính phục hưng đức tin Kitô giáo. Những nhóm khác nữa là những Cộng Đoàn Báp-Tít, Môn Đệ Đức Kitô, và nhiều nhóm Tin Lành cựu trào tự nhận mình là những người theo chủ nghĩa cơ yếu trong cách tiếp cận đức tin và tôn giáo. Một số người duy Tin Mừng chấp nhận sự nghiên cứu của khoa học hiện đại trong những cách thế mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu sẽ không chấp nhận. Nhưng vẫn có nhiều học thuyết của chủ nghĩa cơ yếu nổi lên từ các giáo huấn Tin Lành truyền thống.
Hơn nữa, chủ nghĩa cơ yếu đã nhận ảnh hưởng từ các hiện tượng Tin Lành khác gắn chặt với nó, chẳng hạn phái sùng tín, phái phục hưng đức tin, phái chủ trương thiên niên thuyết, và phái thủ cựu Báp-tít. Tất cả đều có để lại dấu vết của mình nơi phong trào chủ nghĩa cơ yếu nhưng không trực tiếp đồng nhất với chủ nghĩa này. Sự kiện chủ nghĩa cơ yếu là một phong trào rộng thoáng, đa dạng và biến hóa cho thấy đặc tính cá nhân chủ nghĩa rất cao của nó. Rất nhiều nhóm khác nhau tự xếp mình đứng dưới cái phạm trù chung là chủ nghĩa cơ yếu. Mỗi nhóm có khuynh hướng tự xác định chính mình, và không có thẩm quyền bao quát nào quản trị các cộng đoàn những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Việc phạm trù hóa một số nhóm cũng có thể là một việc rất khó khăn, do bởi những vành đai khá rộng thoáng được dùng để phân biệt những người theo chủ nghĩa cơ yếu với những người duy Tin Mừng khác.
Cuối cùng, những người theo chủ nghĩa cơ yếu chống lại việc hòa giải Kitô giáo với tính hiện đại – sự kiện này cho thấy họ có vẻ như là những người phản trí (anti-intellectual) và phân lập (separatist); và trong một số hình thức thái quá thì họ tỏ ra đúng là như thế. Vì theo quan điểm của họ, tính hiện đại đồng nghĩa với hư hỏng và đồi bại, nên một số những người theo chủ nghĩa cơ yếu tin rằng thái độ duy nhất có thể chấp nhận được là phải tách mình ra khỏi xã hội. Quan điểm của họ được đặt điểm tựa trên cơ sở sự giải thích của chính họ về một số bản văn Thánh Kinh kêu gọi tách mình ra khỏi những người không tin (ví dụ, 2Cr 6,14-18; Rm 12,1-2). Ý niệm rằng Kitô giáo là một tôn giáo phản lý (anti-rationalist) và phản nhân bản (anti-humanistic) là một động lực trong nhãn quan của chủ nghĩa cơ yếu, động lực này có thể đi đến chỗ gán cho những người khác là kỳ cục – hay thậm chí là đần độn – một cách đầy tai hại.
Ở đây tôi tưởng cũng cần phải lưu ý bạn đọc một điều nữa. Việc định nghĩa chủ nghĩa cơ yếu và xác định tầm vóc của nó có thể là một công việc rất phiêu lưu – bởi những lý do cả về lịch sử lẫn về thần học. Xuyên qua lịch sử của nó, phong trào cơ yếu đã có khuynh hướng phân tán ra thành nhiều phái khác nhau, kết quả là một số nghiêng về bảo thủ và một số khác lại có chiều hướng phóng khoáng, dẫn đến những mâu thuẫn nội bộ về việc tự xác định căn tính của mình. Phái Báp-tít – phái Tin Lành lớn nhất ở Hoa Kỳ – là một ví dụ điển hình. Một số tín đồ Báp-tít rõ ràng rơi vào mạng lưới chủ nghĩa cơ yếu do bởi cách tiếp cận Thánh Kinh của họ và những vấn đề giáo thuyết khác. Tuy nhiên nhiều người Báp-tít khác không thể được xếp vào loại chủ nghĩa cơ yếu và họ sẽ phản đối nếu bị xếp loại như vậy. Chẳng hạn, Đại Hội Báp-tít miền nam đã có những bất đồng nội bộ về những vấn đề như thế. Thật không dễ xác định ai thuộc về phái nào trong cái toàn cục của chủ nghĩa cơ yếu. Vì vậy, một số tín đồ Báp-tít phân vân không biết có phải mình thuộc về phái duy Tin Mừng – hay thuộc về một nhóm nào đó khác. Tự định danh mình, đó là một tiêu chuẩn để mô tả những người theo chủ nghĩa cơ yếu, nhưng tôi tin rằng cũng có những tiêu chuẩn khách quan khác có thể được vận dụng. Để phòng tránh nguy cơ sa vào chỗ quá đơn giản hóa, tôi đề ra bản phác họa lịch sử sau đây về quá trình phát triển của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh trong phạm vi Tin Lành Mỹ, bản phác họa này sẽ giúp để nhận ra bằng cách nào chủ nghĩa cơ yếu trở thành một sản phẩm tự nhiên của nền văn hóa Mỹ.
Các gốc rễ của chủ nghĩa cơ yếu đã bắt đầu từ thế kỷ 18. Bắt đầu với thời đại Aùnh Sáng, đứng trước những khám phá của khoa học về thế giới, một số Kitô hữu cảm thấy bị đe dọa bởi những kiến thức mới dường như xoi mòn các yếu tính hiện hữu của Kitô giáo. Việc nghiên cứu khoa học về Thánh Kinh bắt đầu chất vấn ngay cả tính chân xác theo mặt chữ của một số dữ kiện Thánh Kinh. Trước thời này, Thánh Kinh vốn được hiểu hoàn toàn sát chữ về tất cả những gì mà Thánh Kinh đề cập. Các nghiên cứu khoa học bắt đầu cho thấy những bất tương hợp trong Thánh Kinh, thế là chính bản chất của tư liệu Thánh Kinh bị chất vấn. Những đường kết nối không trơn tru giữa các bản văn Thánh Kinh cho thấy nguồn gốc của chúng trong tiến trình phức tạp gồm các truyền thống truyền khẩu, ghi chép và biên tập qua nhiều thế kỷ đã bắt đầu xói mòn lòng tin đối với “chân lý Tin Mừng”. Lý luận của con người vươn lên địa vị thượng tôn trên tôn giáo. Một ảnh hưởng tôn giáo chủ yếu ở Mỹ vào thời này là chủ trương Tin Lành duy Tin Mừng. Nó tự thể hiện cách chủ yếu nơi ba hình thức: phái Calvin, phái Thanh giáo và phái phục hưng đức tin. Tất cả những truyền thống tôn giáo này, theo cách thức riêng của mình, đã cố gắng bảo toàn (hay khôi phục) các giá trị Kitô giáo theo như mình nhận hiểu.
Thế kỷ 19, bất chấp những cố gắng để đạt được sự chặt chẽ, một số yếu tố đã dẫn đến sự suy vi ảnh hưởng của những Kitô hữu duy Tin Mừng. Cuộc cách mạng kỹ nghệ nổi lên cùng với tất cả những hệ quả của nó đã có tác động sâu xa đến đời sống Mỹ. Những người mới nhập cư tràn vào đất Mỹ, nhiều người trong họ là Công Giáo, Do thái giáo và Tin Lành Luther – họ có những nhãn quan tôn giáo khác nhau. Sự bộc phát của những nền công nghiệp khác nhau và hiện tượng đô thị hóa kèm theo đó bắt đầu ảnh hưởng mạnh mẽ đến cả lối sống lẫn nhịp sống. Nước Mỹ đang chuyển hóa nhanh chóng từ một xã hội thôn quê và nông nghiệp thành một xã hội đô thị hiện đại và thế tục hóa. Thêm vào đó, lãnh vực khoa học, nhân danh Charles Darwin và thuyết tiến hóa của ông, bắt đầu tung ra những lý thuyết mới và nghịch chướng về các nguồn gốc của chính sự sống con người. Luận đề nổi tiếng của ông, Nguồn Gốc Của Các Loài (Origin of Species, 1859), đã tạo ra một sự khuấy động lớn lao mà một số người đã đúc kết cách lém lỉnh trong khẳng định rằng loài người bởi khỉ mà ra. Nhãn quan Thánh Kinh về sáng tạo được trình bày trong Sách Sáng Thế dường như bị tấn công trực tiếp. Nó xoi mòn ngay cả sự chấp nhận rằng Adam và Eva là những khuôn mặt có sử tính.
Thật ra, sự phát triển của việc nghiên cứu phê bình lịch sử về Thánh Kinh ngay từ khoảng đầu thế kỷ 19 vốn đã bắt đầu gây ra xu thế này. Thành ngữ “phê bình lịch sử” dùng để dịch một thuật ngữ của tiếng Đức ám chỉ sự nghiên cứu khách quan, khoa học về các bản văn Thánh Kinh trong bối cảnh lịch sử. Năm 1835, David Friedrich Strauss, một học giả Thánh Kinh, đã cho xuất bản một quyển sách có tựa đề Đời Sống Của Đức Giêsu Được Khảo Cứu Theo Khoa Phê Bình, khẳng định rằng Tân Ước chứa những yếu tố “huyền thọai” được phát minh bởi Giáo Hội sơ khai để tô son điểm phấn cho cuộc đời Đức Giêsu. Điều đó có nghĩa rằng các Sách Tin Mừng không thể được tin tưởng về mặt giá trị theo mặt chữ, theo sự kiện thực tế. Vì thế, không chỉ Cựu Ước bị đặt vấn đề, mà cả các Sách Tin Mừng cũng bị khoa học cày xới tung tóe.
Sự khám phá ra “thần thoại” và “thần học” trong Thánh Kinh bắt đầu tác động đến các công trình nghiên cứu khoa học về Thánh Kinh. Theo các lý thuyết khoa học về Thánh Kinh, cốt lõi sử tính của chân lý chất chứa trong Thánh Kinh bị ẩn khuất trong những yếu tố khác được thêm vào để phản ảnh đức tin của Giáo Hội sơ khai đúng hơn là phản ảnh một truyền thống thực sự vững chắc. Tính xác thực lịch sử nhường quyền ưu tiên cho những yếu tố khác. Chủ nghĩa hoài nghi lịch sử trùm phủ cả những niềm tin căn bản nhất trong số các niềm tin Do thái Kitô giáo. Đối với các Kitô hữu duy Tin Mừng, tất cả những điều này phát xuất từ ảnh hưởng của một xã hội đa nguyên và tục hóa. Họ cảm thấy họ đang chứng kiến sự bào mòn các giá trị “truyền thống” vốn bị truất phế bởi các giá trị nhân bản. Hơn nữa, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa tự do trong các Giáo Hội Tin Lành kỳ cựu bắt đầu dấy lên. Những người Tin lành tự do muốn chuyển dời tiêu điểm đức tin Kitô giáo từ các chân lý theo giáo thuyết và Thánh Kinh tới hành động xã hội. Những người duy Tin Mừng bắt đầu cảm thấy rằng chính đạo Tin Lành Mỹ đang đánh mất chuẩn mực luân lý của mình và đang lạc xa chân lý.
Cho tới thế kỷ 20, một số Kitô hữu duy Tin Mừng cảm thấy rằng khuynh hướng nhân bản thế tục đã đi xa quá mức. Cần phải có một cái gì đó thật ấn tượng để điều chỉnh sự lệch hướng của đất nước và phục sinh “tôn giáo xưa” của một thời hoàng kim đã qua rồi. Giữa những năm 1910 và 1915, hai cư dân giàu có tại California là Milton và Lyman Stewart (vốn gốc ở Pennsylvania), đã tài trợ cho việc xuất bản một bộ 12 tập sách mỏng có tên là The Fundamentals of the Christian Religion (Những Nền Tảng Cơ Yếu của Kitô giáo – gọi tắt là The Fundamentals). Bộ sách này chứa 90 bài, 27 bài trong đó được dành cho Thánh Kinh, phác họa rõ ràng những gì được cho là các niềm tin thiết cốt của Kitô giáo bất khả khoan nhượng. [4] Hai bài trong đó bàn đến những sự xấu xa của Công Giáo Rôma và nêu lý do tại sao Công Giáo Rôma không đại diện cho đức tin Kitô giáo đích thực. Năm 1920, một nhà báo Bap-tít miền Bắc ký tên là Curtis Lee Laws đã tạo ra thuật ngữ “fundamentalist” (người theo chủ nghĩa cơ yếu) khi đề cập đến những ai gắn chặt với các giáo thuyết tôn giáo cơ yếu này, và một nhóm Bap-tít đã nhận từ ngữ ấy để tự mệnh danh mình. Tên gọi fundamentalist bắt đầu được sử dụng phổ thông từ đó.
Cố nhiên trên đây chỉ là một toát lược ngắn gọn về lịch sử của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh – một chủ nghĩa trong thực tế vốn phức tạp hơn nhiều. Dù sao, toát lược trên cũng cung cấp các dữ kiện đủ để xác định các gốc rễ Mỹ của nó và những khuynh hướng vẫn còn đặc trưng nó như là một phong trào tôn giáo thời nay.
Những người theo chủ nghĩa cơ yếu thường tự hào khi được gọi bằng danh nghĩa ấy, mặc dù có một số phản đối vì cho rằng gọi họ như vậy là xúc phạm. Một từ điển đã định nghĩa chủ nghĩa cơ yếu theo hai khía cạnh của danh hiệu này, một khía cạnh chuyên biệt và một khía cạnh chung. Định nghĩa thứ nhất bao hàm rộng rãi “một phong trào Tin Lành được đặc trưng bởi niềm tin vào chân lý Thánh Kinh theo nghĩa đen.” Định nghĩa thứ hai, rộng rãi hơn nữa, nhằm nói đến “một phong trào hay quan điểm được đặc trưng bởi sự gắn chặt vào các nguyên tắc căn bản hay cơ yếu”. [5] Tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường, chủ nghĩa cơ yếu nhằm chỉ một sự gắn chặt có tính nghiệt ngã, bảo thủ, cố chấp và thô cục với những nhãn quan lỗi thời, phi khoa học và phản trí. Phân tích của chúng ta về chủ nghĩa cơ yếu trong quyển sách này chủ yếu nhắm đến định nghĩa thứ nhất, không phải định nghĩa theo cách hiểu rộng. Thật vậy, các học giả không đồng ý với nhau về vấn đề nên hay không nên áp dụng thuật ngữ “fundamentalist” một cách loại suy cho các nhóm khác vốn được đặc trưng rõ rệt hơn trong tư cách là những người theo chủ nghĩa giáo điều và thủ cựu cách cứng nhắc. Dù sao đi nữa, cái tên fundamentalist được dùng để hướng chỉ bất cứ ai khư khư cố chấp. Đó là lý do tại sao người ta có thể nói về những người cơ yếu tả khuynh hay hữu khuynh. Tuy nhiên, chúng ta sẽ đặt tiêu điểm của mình nơi phong trào cơ yếu của Tin Lành Mỹ vốn vẫn tiếp tục có uy lực mạnh mẽ ở thời điểm bước vào thế kỷ 21 này.
Năm 1909, học giả Thánh Kinh duy Tin Mừng Cyrus I. Scotfield (1843-1921) đã có một cú đẩy mạnh phong trào cơ yếu qua việc xuất bản quyển Thánh Kinh: The Scotfield Reference Bible,[6] chủ trương rằng bản dịch King James Version là bản dịch Anh ngữ duy nhất đáng tin cậy. Bản King James Version được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1611, dịch từ các bản thảo viết tay bằng tiếng Hi lạp và Do thái vốn có sẵn vào thời ấy. Bản hiệu đính Scotfield cung cấp rất nhiều ghi chú để giải thích Thánh Kinh nghiêm ngặt theo các nguyên tắc của chủ nghĩa cơ yếu. Cách riêng, nó giới thiệu một cách đọc Thánh Kinh có tính phân thời (dispensationalist, như được mô tả sau đây trong chương 4) – tính cách này đã trở thành đặc trưng cho chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh. Mặc dù từ ấy đến nay quyển Thánh Kinh này đã trải qua ba lần biên tập, nó vẫn là bản dịch Thánh Kinh được sử dụng chính thức bởi những người cơ yếu, và bản dịch của nó hiện nay hầu như không khác gì với bản nguyên thủy hồi thế kỷ 17. Bản hiệu đính thứ ba, được hoàn thành bởi một nhóm học giả Thánh Kinh theo chủ nghĩa cơ yếu, bổ sung một số lượng đáng kể các chú giải cho bản văn, hiệu đính một số ngôn ngữ cổ, và mở rộng một số giải thích của bản nguyên thủy, nhưng vẫn nằm trong chiều hướng căn bản của bản nguyên thủy.[7]
Một biến cố phân giòng trong phong trào cơ yếu đã xảy đến nhanh vào năm 1925 với “vụ xử án khỉ” khét tiếng liên quan đến Scopes được tổ chức tại Dayton, Tennessee. Cuộc đối chất pháp lý ồn ào này giữa các luật sư nổi tiếng Williams Jennings Bryon và Clarence Darrow, được minh họa sân khấu bởi vở kịch Inherit The Wind năm 1955 (và dựng phim năm 1960), đã gây tranh cãi xôn xao trong dư luận Mỹ giữa tính hiện đại và những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Vụ xử án này liên quan tới một giáo viên trung học, John Thomas Scopes (1900-1970), người bị kết án tù vì giảng dạy lý thuyết tiến hóa theo khoa học đối lập lại giáo huấn của Thánh Kinh về sáng tạo, chống lại luật pháp của Tennessee. Bản án đó về sau được lật ngược lại, nhưng phiên tòa này đã làm cho cả nước chú ý đến hiện tượng trào lên của chủ nghĩa cơ yếu và cách tiếp cận Thánh Kinh theo sát chữ của chủ nghĩa này. Trong hình dung của đại chúng, vụ xử án nói trên đã trở thành biến cố biểu tượng cho chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh ở Mỹ. “Nguồn gốc khỉ, thảo nào luân lý cũng khỉ”, một người theo chủ nghĩa cơ yếu đã mô tả tầm quan trọng của vụ xử án nói trên như thế.
Xuyên qua toàn bộ quá trình phát triển của trường phái tôn giáo cơ yếu, có một khuynh hướng phân tán thành những nhóm khác nhau. Điều này làm nên tính phức tạp của hiện tượng. Không đi vào những chi tiết không cần thiết, chúng ta có thể nói rằng chủ nghĩa cơ yếu bao gồm nhiều cộng đoàn Tin Lành duy Tin Mừng độc lập – đó là những cộng đoàn hiệp nhất với nhau chủ yếu nơi sự chống đối ảnh hưởng thế tục, tự do và hiện đại trong xã hội. Mặc dù các cộng đoàn này có những cách tiếp cận tương tự nhau đối với Thánh Kinh, chúng cũng phân biệt nhau khi chú giải một số khía cạnh của Thánh Kinh. Nói riêng, các cộng đoàn này bất đồng về cách giải thích thiên niên kỷ, tức triều đại một nghìn năm của Đức Kitô được mô tả trong Sách Khải Huyền (20,2-7). Một số người theo chủ nghĩa cơ yếu đã trở thành những amillenialists (những người chống lại quan điểm của phái thiên niên kỷ), họ cho rằng triều đại ngàn năm có tính biểu tượng cho chiến thắng của Đức Kitô trên Satan đúng hơn là hiểu theo nghĩa mặt chữ. Những người khác thì trở thành postmillenialists, cho rằng triều đại của Đức Kitô sẽ xảy ra sau giai đoạn một ngàn năm hòa bình và thịnh vượng đã trở lại trên mặt đất. Cũng có những người khác nữa giữ vững quan điểm của đa số những người theo chủ nghĩa cơ yếu, đó là những người premillenialists, tin rằng Đức Kitô sẽ trở lại trong vinh quang để tái tạo Israel đích thực trước triều đại ngàn năm thịnh vượng, nhằm để khai mạc triều đại ấy. Tuy nhiên, tất cả những người cơ yếu cùng hiệp nhất với nhau trong nhu cầu khẩn bách loan báo Tin Mừng cho thế giới và giúp người ta hoán cải đích thực, trở về với Đức Giêsu Kitô – để được cứu độ.
Như được hàm chứa trong chính tên gọi, những người theo chủ nghĩa cơ yếu quan tâm về các điểm cơ yếu của đức tin Kitô giáo. Ở trọng tâm giáo huấn của họ là niềm tin rằng có một số giáo thuyết cốt lõi làm căn bản cho đức tin Kitô giáo. Những giáo thuyết cốt lõi này được dẫn giải chi tiết trong các tập sách mỏng gọi là The Fundamentals (Những Điều Cơ Yếu). Theo quan điểm của những người cơ yếu, những chân lý này có tính căn bản và cần thiết đến nỗi chúng phải được tuyệt đối giữ vững và không có sự chế giảm nào. Cụ thể có 5 điều cơ yếu như sau:
(1) Niềm tin thiết yếu nhất của những người theo chủ nghĩa cơ yếu là tin rằng Thánh Kinh không sai lầm trong tất cả những điều mà Thánh Kinh dạy. Nghĩa là, Thánh Kinh không có chứa một sai lầm nào trong đó cả. Chúng ta sẽ khám phá chủ đề này đầy đủ hơn trong chương kế tiếp. Ở đây chỉ cần ghi nhận rằng niềm tin này nhấn mạnh vì Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa, nó không thể chứa bất cứ sai lầm nào thuộc bất cứ loại nào, ngay cả không có sai lầm nào về khoa học hay lịch sử, càng không có sai lầm nào về thần học.
(2) Sự kiện Đức Maria thụ thai và sinh hạ đồng trinh Đức Giêsu là một tiêu điểm trọng yếu trong đức tin của những người cơ yếu. Điều này thật thiết cốt để bảo toàn sự nhìn nhận rằng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa.
(3) Điều tin tưởng thứ ba, đó là Đức Giêsu Kitô, qua cuộc khổ nạn và cái chết thập giá của Ngài, đã đền thay cho tội lỗi của loài người. Chỉ một mình hành động của Ngài đã cứu chuộc thế giới và đem lại ơn cứu độ cho những ai đi theo Ngài như là Đấng Mêsia, là Con Thiên Chúa. Chỉ một mình Ngài chuộc tội loài người. Ngài là Đấng đã chết cho hết mọi người. Ngài là Đấng chết thay cho chúng ta, cứu chuộc sự gian ác của chúng ta.
(4) Niềm tin vào sự sống lại của thân xác thể lý Đức Giêsu cũng rất quan trọng trong đức tin của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Sự phục sinh Đức Giêsu là hành động tột cùng của Thiên Chúa chứng minh rằng Đức Giêsu là Mêsia, là Con Thiên Chúa. Giáo thuyết này gắn kết chặt chẽ với niềm tin rằng thân xác người chết cũng sẽ được sống lại khi Đức Kitô trở lại trong vinh quang để thiết lập Vương Quốc chung cục của Thiên Chúa.
(5) Điểm cơ yếu cuối cùng là niềm tin vào cuộc quang lâm (Hy ngữ: parousia, sự đến), hay việc Đức Kitô đến lần thứ hai bằng xương bằng thịt để phán xét thế gian. Nhiều người cơ yếu đi xa đến chỗ giải thích chi tiết cuộc trở lại thể lý của Đức Kitô đến trái đất này, nêu ra cách mà họ phải chuẩn bị chờ đón sự trở lại ấy, và những gì sẽ xảy ra cho những người trung thành trong đức tin và cho những tội nhân không hối cải khi Đức Giêsu trở lại trong vinh quang. Trong ngôn ngữ rối rắm của họ, đây được gọi là sự kiện “được chụp bắt và đem đi”, dựa trên một bản văn không sáng tỏ ý nghĩa của Thánh Phaolô (1Tx 4,16-17) mà chúng ta sẽ xem xét sau.
Cần ghi nhận rằng ngoại trừ giáo thuyết đầu tiên có nhiều hàm chứa về cách giải thích Thánh Kinh, những niềm tin cốt thiết này của những người theo chủ nghĩa cơ yếu vốn được chia sẻ bởi phần đông các Kitô hữu, mặc dù từ nhiều quan điểm khác nhau và với những khác biệt nhau trong cách giải thích hay trong ngôn ngữ mô tả. Ngay cả giữa những người theo chủ nghĩa cơ yếu cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với ý nghĩa của những giáo thuyết này. Tuy nhiên, nỗi sợ của những người theo chủ nghĩa cơ yếu nằm ở chỗ họ sợ rằng tư tưởng tự do hiện đại xem ra đang xoi mòn các giáo thuyết chủ yếu này do việc quá đề cao những giải thích khoa học duy lý, nhất là liên quan đến cách chú giải Thánh Kinh. Vì thế, họ nại đến thẩm quyền của Thánh Kinh để bảo vệ quan điểm của họ. Vì Thánh Kinh được hiểu là Lời của Thiên Chúa, nên những người theo chủ nghĩa cơ yếu xem giáo huấn Thánh Kinh như là phán quyết cuối cùng về vấn đề. Thật khó mà có một thẩm quyền nào cao hơn Thiên Chúa! Đó là lý do tại sao cái nhìn của họ về Thánh Kinh có tầm rất quan trọng và cần phải được tìm hiểu. Tiêu điểm của quyển sách này là xoáy vào cái nhìn đó.
Các Nguyên Tắc Đức Tin Của Những Người Cơ Yếu
Những niềm tin nói trên của những người theo chủ nghĩa cơ yếu gắn liền với một số nguyên tắc quan trọng được rút ra từ chính các niềm tin ấy. Những nguyên tắc này vạch đường lối hành động cho họ. Tôi sẽ liệt kê 6 trong số các nguyên tắc đó.
(1) Thánh Kinh là thẩm quyền duy nhất cho đời sống người Kitô hữu. Thánh Kinh có khả năng chuyển thông thánh ý Thiên Chúa một cách sáng tỏ. Bất cứ ai cầm Thánh Kinh trên tay đều có thể nhận được sứ điệp trực tiếp và chính xác của Thiên Chúa. Không cần phải có một trung gian nào. Một số cộng đoàn những người theo chủ nghĩa cơ yếu từ chối gọi mình là “giáo hội”, thay vào đó họ thích gọi là “hội đồng” hay “cộng đoàn” hơn. Trong cách nghĩ của họ, chính ý niệm Giáo Hội gợi lên một tổ chức đầy tính cơ cấu và độc đoán, xa lạ với Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Không cần phải có Giáo Hội hay thẩm quyền bên ngoài nào khác để giúp rút ra ý Thiên Chúa từ Thánh Kinh. Một số thậm chí xem các Giáo Hội chính thức như là sự cản trở ơn cứu độ và xem các giới chức trong Giáo Hội là không cần thiết hay thậm chí chỉ là những mô ụ gây ách tắc cho ơn cứu độ. Sự nhấn mạnh được đặt nơi đức tin cá nhân. Thánh Thần của Thiên Chúa ban đặc sủng cho các vị lãnh đạo – đó là những vị am hiểu Thánh Kinh và có khả năng giảng Lời Thiên Chúa một cách đầy hiệu quả, nhờ đó đem những người khác đến với đức tin.
(2) Ơn cứu độ vĩnh cửu chỉ đến qua sự chuộc tội do Đức Giêsu Kitô thực hiện. Đó là lý do tại sao cần phải tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Độ riêng của mình. Phần đông những người theo chủ nghĩa cơ yếu tự gọi mình là “những Kitô hữu được sinh lại”. Họ tin rằng họ thấm nhập vào trong tim mình sứ điệp ”hãy sinh lại” của Đức Giêsu (Ga 3,3), và họ đồng hóa hành động hoán cải này với một thời gian và nơi chốn đặc biệt khi người ta chấâp nhận cụ thể bằng lời rằng Đức Giêsu Kitô là Chúa và Đấng Cứu Độ của riêng mình. Có bảy bước cụ thể để được “sinh lại”:[8]
¨ Nhìn nhận rõ tội lỗi mình
¨ Thống hối và dứt khoát từ bỏ tội lỗi
¨ Thỉnh cầu Chúa Giêsu đi vào trong đời sống mình để hướng dẫn đời sống đó
¨ Tuân phục thánh ý Thiên Chúa
¨ Chế ngự các đau khổ nơi mình và vượt thắng các vấn đề
¨ Cảm nghiệm sự săn sóc trực tiếp của Thiên Chúa
¨ Chấp nhận trong hiện tại ơn cứu độ mà Thiên Chúa mở ra cho mình
Những hành vi ấy được xem là để chuyển hóa đời sống con người một lần cho tất cả.
(3) Mọi Kitô hữu phải Phúc Âm hóa (Hy ngữ: euaggelizomai, “loan báo tin mừng”) thế giới bằng chứng tá cá nhân của mình. Bởi vì sứ điệp Tin Mừng rất quan trọng cho ơn cứu độ, nên mọi người nhận sứ điệp ấy có trách nhiệm phải chuyển nó tới cho người khác. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu vì thế rất duy Tin Mừng trong đức tin của họ. Họ nhận thấy nhu cầu phải Phúc Aâm hóa thế giới, phải cứu toàn thể loài người khỏi tội lỗi. Họ không thể ngồi thúc thủ nhưng trái lại cảm thấy phải dấn thân tích cực truyền bá sứ điệp của Chúa Giêsu đến cho toàn thế giới. Nhiều nhóm người theo chủ nghĩa cơ yếu rất giỏi truyền giáo tại những nước đang phát triển như ở Nam Mỹ hay Phi Châu, nơi mà họ gặt hái những thành công ngoạn mục trong việc chuyển hóa người ta theo đức tin của họ. Họ cũng quan tâm nhiều đến việc giúp chuyển hóa những người Do Thái giáo và những người ngoài Kitô giáo khác mà họ ước ao đem về đoàn chiên của Đức Kitô.
(4) Mọi Kitô hữu phải sống một đời sống luân lý nhiệm nhặt. Điều này thường được kèm theo bởi những cấm đoán nghiêm ngặt về việc hút thuốc lá, uống rượu, chơi ma túy, cờ bạc,… Một câu khẩu hiệu phổ biến: “Chúng ta không hút thuốc, không rượu bia, nhậu nhẹt, không chơi bời trác táng.” Dĩ nhiên thái độ này không làm cho họ trở thành miễn nhiễm đối với tội lỗi. Trong đa số các giáo phái đều đã có những xì căng đan gây ồn ào khi người ta bắt gặp một số giới chức lãnh đạo của giáo phái ngoại tình hoặc có những hành động vô luân khác. (Chẳng hạn, những xì căng đan tình dục của Jimmy Swaggert hay Jim Bakker vào cuối thế kỷ 20). Đôi khi qui tắc luân lý nghiêm ngặt này thậm chí đi xa đến nỗi người ta phải tránh tham gia vào một số lễ hội chính thức công cộng, chẳng hạn lễ Halloween (được gán là thờ Satan, có tính tà thuật,…), tránh dùng cây thông giáng sinh để trang hoàng dịp Nôen (được cho là nghi thức ngoại giáo), hay tránh đọc những câu chuyện Harry Potter của J.K. Rowling (được gán là phù thủy, ma quái).
(5) Các Kitô hữu phải chiến đấu không khoan nhượng để bảo vệ chân lý. Những người cơ yếu tự xem mình như những người lính gác gìn giữ đức tin Kitô giáo chân thực. Vì thế họ phải cực lực chống lại tất cả những gì mà họ nghĩ là đối nghịch với Kitô giáo đích thực. Họ thường sử dụng thứ ngôn ngữ đầy sát khí của chiến tranh (chẳng hạn: “Xông lên! Hỡi các chiến sĩ Kitô giáo” – bản hành khúc được soạn ra ở Anh vào năm 1864, để tạo khí thế dấn thân mạnh mẽ cho sứ điệp Kitô giáo). Họ dấn thân sâu sắc vào một cuộc chiến tranh toàn diện giữa thiện và ác. Họ phản đối khoa nghiên cứu phê bình Thánh Kinh hiện đại, chống lại trào lưu tục hóa, chống cả chủ nghĩa nhân bản bởi vì những thứ đó tấn công và thực sự hủy diệt các giá trị cốt tủy của Kitô giáo. Ngay cả trong nội bộ các tổ chức của mình, một số giáo phái theo chủ nghĩa cơ yếu đã phân rã nghiêm trọng do đấu tranh nội bộ khi có phát hiện ra rằng giới lãnh đạo không triệt để chống lại những ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài. Một số nhóm cơ yếu đã quyết định đứng hẳn ra ngoài xã hội để bảo toàn đức tin đích thực. Những người tách biệt này đôi khi thiết lập trường học tại nhà cho con em mình để chúng không bị hư hỏng bởi các giá trị thời thượng của Mỹ. Dù vậy, chúng ta nên ghi nhận rằng ngay cả một số người theo chủ nghĩa cơ yếu cũng cho rằng những người bạn quá khích ấy của họ là “cơ yếu thái quá”, do bởi tính cứng nhắc và khuynh hướng tách biệt quá mức của những người bạn ấy.
(6) Cuối cùng, phần đông những người theo chủ nghĩa cơ yếu đều có một cái nhìn cánh chung[9] đặc thù về các biến cố sẽ xảy ra vào hồi tận thời. Họ nôn nóng mong đợi Đức Giêsu đến lần thứ hai. Viễn tượng cánh chung của họ càng tăng thêm tính khẩn trương cho sứ điệp của họ, vì họ cảm thấy thời gian không còn nhiều và họ được mời gọi truyền bá sứ điệp của Đức Giêsu xa rộng ngần nào có thể trước khi các biến cố của buổi tận thời xảy ra. Về nguyên tắc này, những người theo chủ nghĩa cơ yếu dựa vào một số bản văn mấu chốt của Thánh Kinh tập chú vào những kỳ vọng có tính khải huyền,[10] chẳng hạn Sách Khải Huyền. Sự giải thích của họ đối với những bản văn này đôi khi đưa ra những cảnh tượng rất chi tiết của những gì sẽ xảy ra ở hồi kết cục khi Thiên Chúa thiết lập vương quốc vĩnh cửu của Ngài.
Sáu nguyên tắc hành động trên đây là nền móng của chủ nghĩa cơ yếu và là định hướng thực hành cho các nỗ lực truyền bá sứ điệp của họ.
Những Chủ nghĩa cơ yếu Của Thế Giới
Trước khi tìm hiểu sâu hơn về cách tiếp cận Thánh Kinh của chủ nghĩa cơ yếu, tôi tưởng cần phải nói đôi lời về chủ nghĩa cơ yếu trong các cảnh vực khác của thế giới. Các phương tiện truyền thông đại chúng thường nói về những loại chủ nghĩa cơ yếu khác hiện đang tồn tại và rất đậm màu sắc chính trị. Chẳng hạn, đã nhiều trường hợp, tại một số nước thiên hạ bàn tán xôn xao khi những “người cơ yếu” Hồi giáo hay Do thái giáo cực đoan đưa ra những tuyên bố hay thậm chí dính líu vào các hành động khủng bố và bạo lực. Ở đây có mối liên hệ nào với chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh không?
Câu trả lời là vừa có vừa không. Rõ ràng, người ta có thể chỉ ra một số nét tương đồng trong bất cứ chủ nghĩa cơ yếu tôn giáo nào, bất kể xu hướng của giáo phái ấy là gì. Giáo sư Martin E. Marty, một chuyên gia lịch sử Giáo Hội, chỉ ra 11 yếu tố chung có thể được tìm thấy nơi các nhóm “cơ yếu”:[11]
¨ Nguồn gốc nằm ở các nền văn hóa truyền thống và bảo thủ
¨ Một cảm giác mơ hồ về tình trạng bị đe dọa bởi các lực bên ngoài
¨ Không thoải mái và không hài lòng với cuộc sống
¨ Có thái độ phản ứng tự vệ
¨ Hướng tới việc tách biệt khỏi những người khác
¨ Có ý muốn bêu xấu những người ngoài
¨ Đề kháng lại những gì mâu thuẫn và hàm hồ
¨ Tạo ra một nền văn hóa nhị nguyên rạch ròi
¨ Có khuynh hướng bộc trực thái quá để giữ quan điểm của mình
¨ Thu tóm tương lai vào hiện tại qua cái nhìn đăm đăm vào chiến thắng của tương lai.
Những đặc điểm kể trên cho thấy các loại chủ nghĩa cơ yếu khác nhau trên khắp thế giới. Các nghiên cứu xã hội học và nhân loại học gần đây xác nhận một số mối liên hệ chung giữa những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Những người cơ yếu dù thuộc bất cứ loại nào cũng đều dựa vào những bản văn thánh viện dẫn thẩm quyền thần linh. Vì thế, những người Hồi giáo có Kinh Coran và những người Do thái giáo có Tanak hay Thánh Kinh Do thái của họ. Trong các tôn giáo này đều có những người cơ yếu – họ đọc Thánh Kinh của họ cũng tương tự như cách mà những người cơ yếu Mỹ đọc Thánh Kinh Kitô giáo. Chủ nghĩa cơ yếu nào cũng đọc và hiểu các bản văn thánh theo sát chữ. Thường thì các bản văn ấy củng cố một số quan điểm chính trị hay cảm hứng – từ quan điểm của họ, dĩ nhiên – và thẩm quyền thần linh thì khó có ai có thể phủ nhận. Nếu Thiên Chúa bảo phải “thánh chiến”, thì ta thánh chiến, thế thôi. Phải như thế mới bảo vệ được chân lý.
Thêm vào đó, có một thực tại khác có lẽ nên gọi là chủ nghĩa thủ cựu hay giáo điều, gắn chặt với chủ nghĩa cơ yếu. Đây xem ra là một khuynh hướng tâm lý muốn hành động một cách xác thực tuyệt đối và không cho phép có sự nhượng bộ hay linh động nào. Một số quan điểm đầy tính tiên kiến giáo điều đóng vai trò hướng dẫn hành động của người ta, và không có một luận lý nào có thể bứng người ta khỏi chiều hướng đã được chọn lựa này. Thật vậy, nơi mọi hình thức của chủ nghĩa cơ yếu đều có phơi bày những yếu tố cứng nhắc về tâm lý. Tôi đã đề cập trên kia rằng chủ nghĩa cơ yếu thuộc loại này có thể hiện lộ ra nơi bất cứ khuynh hướng chính trị nào, từ hữu khuynh tới tả khuynh, từ tự do tới bảo thủ.
Tuy nhiên, nhiều hiện tượng chủ nghĩa cơ yếu trên khắp thế giới vốn quá đa dạng và do đó thách đố mọi sự phạm trù hóa dễ dãi. Không có sự phân tích nào có thể giải thích cách đồng nhất mọi khía cạnh của chủ nghĩa cơ yếu. Việc điều tra xã hội học kỹ lưỡng đòi phải khám phá những trường hợp đặc biệt vốn đóng vai trò định hướng các loại chủ nghĩa cơ yếu. Quyển sách này không phải là một nghiên cứu xã hội học hay nhân loại học, cũng không phải là một nghiên cứu tâm lý. Trước hết quyển sách này là một hướng dẫn về Thánh Kinh, nhằm đối chiếu và đối lập giữa một bên là phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của những người theo chủ nghĩa cơ yếu và bên kia là phương pháp của những người không theo chủ nghĩa này, đồng thời cũng so sánh một lập trường cơ yếu đối với Thánh Kinh với một lập trường Công Giáo.
Vì thế, tôi sẽ không nhằm đề cập đến chủ nghĩa cơ yếu như một hiện tượng tôn giáo phổ biến. Các chuyên gia khác đã khám phá lãnh vực này trong những nghiên cứu công phu (xin xem bộ sách nhiều tập The Fundamentalisms Project trong thư mục). Thay vào đó, tôi sẽ giới hạn tiêu điểm nơi chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh của Tin Lành Mỹ – vốn vẫn còn tồn tại hiện nay ở Hoa Kỳ và đã được xuất khẩu sang nhiều khu vực khác của thế giới bởi những người Kitô hữu duy Tin Mừng sôi sục nhiệt huyết. Đây là một hình thái chuyên biệt của chủ nghĩa cơ yếu mà xem ra người Công Giáo phải đương đầu và bị gây nhiều băn khoăn. Bây giờ chúng ta hãy đi vào chủ điểm của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh – tức cách mà chủ nghĩa này đọc Thánh Kinh.
====================================
[1] Marsden, Fundamentalism and American Culture, 4
[2] Cohen, The Fundamentalist Phenomenon, 22
[3] Falwell, The Fundamentalist Phenomenon, 3
[4] Hiện đang có lưu hành một bản hiệu đính, có tựa đề The Fundamentals: The Famous Sourcebook of Foundational Biblical Truths, R.A. Torrey, Grand Rapids, Mich.: Kregel 1990
[5] The American Heritage Dictionary, 2nd college ed., Boston: Houghton Mifflin, 1991, 539.
[6] New York: Oxford University, 1909; 2nd ed., 1917
[7] The New Scotfield Study Bible, 3rd ed., New York:Oxford University, 1967
[8] Xem Eric Gritsch, Born Againism: Perspectives on a Movement, Philadelphia: ortress, 1982, 91-92
[9] Hy ngữ: eschaton, “thời tận cùng”
[10] Hy ngữ: apokalypsis, “vén màn, bộc lộ”
[11] Fundamentals of Fundamentalism, 18-23
Giải thích Thánh Kinh, đó là vấn đề thường gây đụng chạm giữa những người cơ yếu với các Kitô hữu khác. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh đã phát triển một cách tiếp cận Thánh Kinh độc đáo trong cảnh vực Tin Lành – và chúng ta phải hiểu cách tiếp cận này trước khi chúng ta có thể đối chiếu nó với cách tiếp cận của Công Giáo. Chương này sẽ phác họa những đặc điểm chính của phương pháp tiếp cận này.
Nguyên tắc chính mà những người cơ yếu bám vào trong việc giải thích Thánh Kinh, đó là Thánh Kinh là thẩm quyền duy nhất về những gì Thiên Chúa nói và muốn. Thánh Kinh là nguồn duy nhất và đủ để hướng dẫn luân lý. Có một số hệ luận suy ra từ nguyên tắc này. Thứ nhất, Thánh Kinh chứa tất cả những gì bạn cần biết. Không cần phải bổ sung cho nó những giáo thuyết hay những điều tin tưởng khác. Thứ hai, Thánh Kinh nói chính xác điều nó muốn nói và muốn nói điều nó nói. Không cần có một trung gian bên ngoài nào để giải thích điều Thánh Kinh dạy; giáo huấn của Thánh Kinh tự nó sáng tỏ cách đầy đủû. Ý nghĩa nằm ở chính mặt chữ, và bất cứ ai có thể đọc thì cũng có thể hiểu điều Thánh Kinh nói. Thứ ba, vì Thánh Kinh là Lời của Thiên Chúa, nên dĩ nhiên nó không sai lầm – nghĩa là không có một sai lỗi nào dù thuộc bất cứ loại nào. Hệ luận này dựa trên một tam đoạn luận ba vế có thể được định thức hóa như sau:
Đây là một cấu trúc luận lý trong hệ thống của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Hơn nữa, nếu Thánh Kinh mắc sai lầm dù chỉ trong vấn đề bé nhỏ nhất, thì chân lý của nó sẽ hoàn toàn bị rúng chuyển. Không trung thành trong việc nhỏ, sẽ không trung thành trong những điều lớn hơn! Một hệ quả thứ tư, đó là thẩm quyền luân lý của Thánh Kinh vẫn có hiệu lực cho mọi thời. Không thể có sự nhượng bộ nào về thẩm quyền đó. Cuối cùng, những người theo chủ nghĩa cơ yếu tin rằng năng lực tiên tri của Thánh Kinh hướng chỉ trực tiếp đến thời đại của chúng ta, bất kể khung cảnh lịch sử nguyên thủy của nó như thế nào.
Nguyên tắc chính yếu này và các hệ quả kèm theo của nó có quan hệ hỗ tương với nhau và mở ra một cách tiếp cận đặc thù với bốn ý niệm chìa khóa để đọc Thánh Kinh: thẩm quyền (qui điển), linh hứng, chú giải, và tiên tri. Mỗi ý niệm này đều cần chúng ta tìm hiểu.
Thánh Kinh là thẩm quyền duy nhất, quan điểm này bắt nguồn từ thời Cải Cách vào thế kỷ 16 của Martin Luther và những người khác. Khẩu hiệu sola scriptura (La tinh: “chỉ có Thánh Kinh thôi”) trở thành một dấu ấn về cách tiếp cận đức tin Kitô giáo của những người Cải Cách trong so sánh với khẳng định của Giáo Hội Công Giáo về tầm quan trọng của huấn quyền Giáo Hội xuyên qua lịch sử. Khẩu hiệu ấy đứng song song với hai câu nói La tinh khác nhấn mạnh sự tin cậy của Tin Lành vào duy chỉ một mình Thiên Chúa (sola fide, “chỉ đức tin thôi”, và sola gratia, “chỉ ân sủng thôi”). Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa cơ yếu bị thúc ép phải chỉ ra cho thấy bản văn nào trong Thánh Kinh khẳng quyết rằng chỉ mình Thánh Kinh là đủ cho sự hướng dẫn luân lý. Thật vậy, một số người cơ yếu nhận ra rằng không nơi đâu trong bản thân Thánh Kinh tuyên bố thẩm quyền duy nhất và độc chiếm này, song họ vẫn bảo quản nó như là một nguyên tắc căn bản.
Các bản văn trong đó Thánh Kinh tự nói về Thánh Kinh thì rất ít ỏi và thưa thớt. Có ba bản văn rõ nhất. Có thể lấy bản văn hùng hồn của Isaia sau đây làm ví dụ:
Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời, không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó (Is 55,10-11)
Bản văn đầy sắc thái thi ca này – xuất phát từ Isaia Đệ Nhị, vị tiên tri khuyết danh của thời lưu đày Babylon – nói về tính hiệu quả của Lời Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải ghi nhận rằng có một quan điểm cơ yếu không nhìn nhận bản tính lắp ghép của Sách Isaia. Đa số các học giả, dù là Tin Lành, Công Giáo hay Do thái giáo, đều tin rằng Sách Isaia thực sự bao gồm những lời tiên tri của ba vị ngôn sứ thuộc ba giai đoạn khác nhau trong lịch sử It-ra-en, Isaia của Giê-ru-sa-lem (thế kỷ 8 trước Công Nguyên) và hai ngôn sứ khuyết danh thuộc các giai đoạn sau (thế kỷ 6-5 trước Công Nguyên) được mệnh danh là Isaia Đệ Nhị và Isaia Đệ Tam. Các ký lục đã kết hợp những tư liệu này thành một quyển sách duy nhất do những nét tương đồng của nhãn giới tiên tri và chủ đề của các lời tiên tri. Cũng có khả năng là các ngôn sứ khuyết danh về sau đã hữu ý tạo phong cách cho mình theo hình mẫu của Ngôn sứ Isaia thế kỷ thứ 8. Trong bất luận trường hợp nào, quyển sách cũng là một quyển sách lắp ghép.
Theo văn mạch của Isaia 55,1-13, sứ điệp của bản văn này liên quan đến lời Thiên Chúa hứa khôi phục dân được chọn sau thời gian lưu đày. Lời Thiên Chúa được so sánh với mưa và tuyết từ trời rơi xuống và làm cho đất phì nhiêu. Lời của Thiên Chúa thì luôn trung thành; lời ấy hứa tái lập dân It-ra-en và điều đó sẽ được thực hiện. Cũng như nước chuyển hóa sa mạc thành vườn cây, thì Lời Thiên Chúa sẽ chuyển hóa dân It-ra-en eo sèo cằn cỗi một lần nữa trở thành một dân tộc phồn vinh. Sứ điệp chính yếu, vì thế, là tính đáng tin cậy của Lời Thiên Chúa. Thiên Chúa nói, đó có nghĩa là ý Thiên Chúa được thực hiện. Việc hứa tính hiệu quả của Lời Thiên Chúa không hề nói gì về vấn đề Thiên Chúa có dùng các phương tiện khác – bên cạnh lời của Ngài – để hoàn thành thánh ý Ngài hay không. Bản văn này chỉ đơn thuần khẳng định rằng Lời Thiên Chúa đầy hiệu năng. Còn hai bản ‘Thánh Kinh nói về Thánh Kinh’ kia thì đề cập đến linh hứng – chúng ta sẽ trở lại với hai bản văn ấy sau.
Một khía cạnh quan trọng khác của thẩm quyền là ý niệm về qui điển. Mọi Kitô hữu đều xem Thánh Kinh là các bản văn qui điển. Ý niệm về qui điển được rút ra từ Hy ngữ (kanõn, “chuẩn mực đo lường”). Nó hàm nghĩa rằng Thánh Kinh có thể được dùng như một phương tiện để đo lường sự tiến bộ tâm linh và luân lý của người ta. Gọi Thánh Kinh là qui điển, đó là chấp nhận nó là một tuyển tập những tác phẩm có thẩm quyền được dùng để hướng dẫn đời sống mình. Cùng với các Kitô hữu khác, những người theo chủ nghĩa cơ yếu rõ ràng nhìn nhận chức năng qui điển này của Thánh Kinh, nhưng họ hiểu nguồn của qui điển một cách phi lịch sử. Họ khẳng định sự tồn tại của qui điển nhưng không nhìn nhận tiến trình hình thành qui điển. Nhiều người theo chủ nghĩa cơ yếu quan niệm việc hình thành Thánh Kinh như một thực tại được mở ra, cơ hồ như nó bỗng dưng xuất hiện cho con người với sứ điệp thần linh nguyên vẹn. Họ không ngây ngô đến mức nghĩ rằng Thánh Kinh bỗng dưng từ trên trời rơi xuống, nhưng họ cho rằng các tác giả nguyên thủy được Thiên Chúa hướng dẫn một cách nào đó để viết mọi chữ với sự chính xác bất khả ngộ, vì thế sản sinh ra một bản văn bất khả ngộ.
Đa số các học giả Thánh Kinh, dù là Tin Lành hay Công Giáo, đều nhìn nhận những nguồn phức tạp của qui điển Thánh Kinh Kitô giáo. Các bản văn Cựu và Tân Ước đã tiến hóa qua hàng ngàn năm trong một tiến trình bao gồm các truyền thống truyền khẩu, ghi chép, sưu tập và hiệu đính – một tiến trình chắc chắn cho phép có những sự tài bồi len vào. Cộng đoàn Kitô hữu, tức Giáo Hội, một lúc nào đó đã phải quyết định xem những quyển nào thuộc qui điển và những quyển nào phải bị loại ra. Phần đông các học giả tin rằng qui điển Tân Ước đã được hoàn thành dứt khoát vào khoảng thế kỷ thứ tư sau Công Nguyên, khoảng thời của Thánh Athanasiô, Giám mục Alexandria.[1] Tiến trình này rất quan trọng đối với việc chú giải vì nó cho phép có những giải thích đối kháng nhau và cho thấy sự phát triển lịch sử của những nhãn quan luân lý qua thời gian, một điều mà cách tiếp cận Thánh Kinh của những người theo chủ nghĩa cơ yếu phớt lờ không quan tâm đến. Họ không nhìn nhận rằng Giáo Hội đã hình thành nên qui điển Thánh Kinh theo sự hướng dẫn của Thánh Thần.
Chúng ta cũng cần ghi nhận rằng sự hình thành qui điển không hoàn toàn tùy tiện. Đã có một số tiêu chuẩn được chấp nhận mà Giáo Hội áp dụng để ấn định những sách nào được đưa vào qui điển và những sách nào phải bị loại ra. Trong số các tiêu chuẩn ấy có tiêu chuẩn về nguồn tác giả Tông Đồ [2] của các bản văn, về tính cổ xưa của các bản văn, về việc các bản văn được sử dụng công khai và rộng rãi giữa các cộng đoàn Kitô hữu khác nhau, về tính linh hứng được gán cho các bản văn ấy (bản văn thánh), về tính nhất quán với nhau, và về nhãn quan giáo thuyết đúng đắn về Đức Giêsu Kitô. Tuy vậy, tiến trình này không luôn luôn trơn tru và đã dẫn tới những bất đồng, có những bất đồng đã kéo dài nhiều thế kỷ. Có những lúc, Giáo Hội quyết định đào thải ra khỏi qui điển những tác phẩm Kitô giáo sơ khai như sách Didache, các thư của Thánh Inhaxiô thành Antiokhia, … cùng với những sách Phúc Âm bị hồ nghi là ngụy thư. Điểm chú ý của chúng ta ở đây là nhấn mạnh quá trình phát triển lâu dài và rắc rối của qui điển Kitô giáo mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu có khuynh hướng phớt lơ.
Thẩm quyền có tính qui điển của Thánh Kinh dựa trên khẳng quyết rằng nó là các bản văn được linh hứng. Nguồn gốc độc nhứt của nó ở nơi chính Thiên Chúa Đấng là tác giả tối thượng của nội dung Thánh Kinh. Đối với những người theo chủ nghĩa cơ yếu, bản văn quan trọng nhất về thẩm quyền của Thánh Kinh là một bản văn trích ở 2Timôthê, như sau:
Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành (3,16-17).
Lý do để gán thẩm quyền độc đáo này cho Thánh Kinh là vì Thánh Kinh được mọi Kitô hữu nghĩ là văn chương được linh hứng cách độc đáo. Không có thứ văn chương nào khác có thẩm quyền tương tự. Vẻ đẹp và sự thật chứa trong các tác phẩm của William Shakespeare, Robert Frost, hay tác giả được ưa thích nào khác có thể inspiring (truyền cảm hứng), chứ không thể inspired (được linh hứng). Chúng ta hãy xem xét ý niệm linh hứng này một cách kỹ lưỡng hơn.
Mọi Kitô hữu đều tin rằng Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa được linh hứng. Họ bảo vệ điều mà họ gọi là “giáo thuyết về linh hứng”. Khẳng định rằng Thánh Kinh được linh hứng, điều đó không hoàn toàn giống với việc nói sự linh hứng này làm việc thế nào hay được thực hiện thế nào. Chúng ta thử xem bản văn trong 2Timôthê nói gì. Những nhận xét sau đây là rất quan trọng.
Trước hết, hãy ghi nhận rằng mấy chữ “tất cả những gì viết trong Sách Thánh” (Hy ngữ: pasa graphẽ) qui chiếu đến những Sách Thánh quen thuộc với thính giả mà lá thư này nhắm đến (cf. thành ngữ “đúng như lời Kinh Thánh” trong 1Cr 15,3.4). Vào thời gian mà lá thư này được biên soạn, Tân Ước chưa hề tồn tại như là một bộ sưu tập các tác phẩm có thẩm quyền. (Nguồn tác giả của lá thư này bị tranh cãi. Phần đông các học giả cho rằng bức thư được viết khoảng năm 64-68 hoặc 80-90 của Công Nguyên, tùy thuộc vào sự kiện nó được viết bởi các môn đệ ban đầu của Phaolô hay bởi các môn đệ muộn hơn về sau – viết nhân danh Phaolô. Đa số các học giả nghi rằng không phải chính Phaolô viết bức thư.) Nói cách khác, việc qui chiếu đến Sách Thánh ở đây chính là qui chiếu đến cái mà các Kitô hữu gọi là Cựu Ước (Thánh Kinh Do thái) – theo sự nhận biết của các Kitô hữu sơ khai thì Cựu Ước là Sách Thánh có thẩm quyền. Dĩ nhiên, sự chú giải của Kitô giáo về sau nhìn nhận rằng tất cả những Sách Thánh được xem là qui điển đều nhận cùng một thẩm quyền ấy. Và đó là lý do tại sao bản văn này hiện nay có thể được áp dụng cho cả Cựu Ước lẫn Tân Ước.
Thứ hai, tính từ “được linh hứng” (Hy ngữ: theopneustos) có nghĩa sát chữ là “được Thiên Chúa thở hơi”. Tính từ này chỉ xảy ra một lần trong toàn bộ Thánh Kinh, và đó chính là trong bản văn này. Cũng như trong gốc Anh ngữ “inspire” (thở hơi vào), gốc Hy ngữ khẳng định rằng Thiên Chúa đã thổi sự sống hay ý nghĩa vào trong những lời được gọi là Sách Thánh. Những lời ấy chứa Thần Khí của Thiên Chúa. Thiên Chúa đứng đàng sau các bản văn ấy trong tư cách là tác giả tối thượng, mặc dù Ngài làm việc xuyên qua các tác giả nhân loại. Từ ngữ “được linh hứng” không chứa bất cứ một hàm ý nào về cách mà sự linh hứng ấy được thực hiện. Từ ngữ ấy cũng không đụng chạm gì đến vấn đề linh hứng “cái gì”. Linh hứng lời nói truyền khẩu hay bản văn ghi chép? Linh hứng các bản văn bằng tiếng Do thái hay các ản văn bằng tiếng Hy lạp? Có linh hứng các bản dịch không? Từ ngữ ấy chỉ khẳng định rằng Thiên Chúa là nguồn của những lời ấy. Thiên Chúa là tác giả tối thượng. Vì thế, các bản văn thánh chứa sứ điệp mà Thiên Chúa muốn nói.
Cuối cùng, bản văn trích dẫn trên phác họa cho thấy tại sao việc có những bản văn linh hứng là điều rất quan trọng. Nó hữu dụng (Hy ngữ: õphelimos, “hữu dụng, có lợi, thuận lợi”) cho nhiều công việc khác nhau của người Kitô hữu: giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Mục đích là để đào tạo một Kitô hữu chính danh. Thánh Kinh hữu dụng về phương diện này. Bất chấp tình trạng được linh hứng cách độc đáo của nó, Thánh Kinh không bao giờ tự nhận rằng nó là nguồn duy nhất để đào tạo người Kitô hữu. Đúng hơn, trong việc chỉ dẫn và sửa dạy về luân lý để người ta sống một đời sống công chính, Sách Thánh là một hướng dẫn viên đáng tin cậy, một nguồn hữu dụng. Thật vậy, tất cả các Kitô hữu đều cho rằng Thánh Kinh không thể thiếu được cho một đời sống Kitô hữu đích thực. Tuy nhiên, bản văn không giải thích chính xác sự linh hứng làm việc như thế nào cũng không bảo vệ nguyên tắc sola scriptura (chỉ Sách Thánh thôi).
Một bản văn khác mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu dùng để giải thích lập trường của họ về sự linh hứng, đó là bản văn trích từ 2 Phêrô:
Nhất là anh em phải biết điều này: không ai được tự tiện giải thích một lời ngôn sứ nào trong Sách Thánh. Quả vậy, lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa (1,20-21)
Một cách thiết yếu, bản văn này nói rằng những lời nói ngôn sứ không bắt nguồn từ con người nhưng là bắt nguồn từ Thiên Chúa. “Thánh Thần” là nguồn của lời ngôn sứ, và sự giải thích các lời ngôn sứ không dựa vào sự nhận hiểu của một cá nhân nhưng là dựa vào ý Thiên Chúa muốn nói được chứa đựng trong các bản văn thánh. Nhưng một lần nữa chúng ta ghi nhận ở đây rằng bản văn trích dẫn trên không giải thích bằng cách nào người ta có được một sự chú giải đúng đắn. Việc khẳng định rằng Thánh Thần là nguồn của Sách Thánh và của nhà chú giải đích thực thì tương hợp với bản tính được linh hứng của Thánh Kinh, nhưng việc khẳng định như thế không giải thích khía cạnh “thế nào” của việc chú giải. Thật thú vị, bản văn này cũng chống lại sự chú giải cá nhân, một cái gì đó có tính đặc trưng của phương pháp tiếp cận Thánh Kinh theo chủ nghĩa cơ yếu.
Vì giáo thuyết về linh hứng là một phần thiết yếu của tất cả các giáo phái Kitô giáo, nên không đáng ngạc nhiên việc mỗi giáo phái vật lộn với công việc xác định cách thế mà sự linh hứng làm việc. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu chấp nhận giả thuyết “plenary verbal inspiration” (linh hứng hoàn toàn sát từng chữ). Điều này có nghĩa rằng mọi lời của các bản văn nguyên thủy của Thánh Kinh đều được linh hứng cách hoàn toàn và hoàn toàn không sai lầm. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu hiểu thuyết linh hứng của họ theo ba nguyên tắc:
Ở đây, chúng ta cần ghi nhận rằng thuật ngữ “không sai lầm” (inerrant) và “bất khả ngộ” (infallible) được sử dụng một cách đồng nghĩa. Một số người Tin Lành hơi châm biếm khi gọi việc sử dụng Thánh Kinh một cách quá độc đoán là “Giáo Hoàng giấy”, và điều này càng cho thấy rõ mối nối kết giữa hai thuật ngữ trên. Một phát ngôn viên thuộc chủ nghĩa cơ yếu tóm tắt tính không sai lầm như sau:
Thánh Kinh trong toàn phần của nó ủy trao Lời được ghi chép của Thiên Chúa cho con người [sic]. Lời này không mắc sai lỗi nào trong bản thảo viết tay nguyên thủy của nó… Nó hoàn toàn đáng tin cậy về lịch sử và giáo thuyết… Các tác giả Sách Thánh, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, được gìn giữ để khỏi vướng mắc những sai lỗi về khoa học, lịch sử, về tính xác thực và về những lãnh vực khác.[3]
Chính từ “bản thảo viết tay” (autograph) cũng cần phải được giải thích. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu đặt sự xác tín của họ trên sự tồn tại của những bản thảo nguyên thủy – chẳng hạn, như được mô tả trong Giêrêmia 36,1-32, là bản văn kể lại việc Giêrêmia đọc cho thư ký của mình là Baruch ghi chép. Song cuối cùng các bản thảo nguyên thủy đã thất lạc qua thời gian. Tuy nhiên, vì các bản thảo viết tay không còn tồn tại nữa, nên không có cách nào để tái lập bản văn nguyên thủy với sự chắc chắn. Chẳng hạn, hiện có vài ngàn bản thảo Tân Ước bằng tiếng Hi lạp, nhưng không bản nào trong chúng là nguyên thủy. Tất cả chúng là những bản sao lại từ các bản sao (copies of copies) được viết qua nhiều thế kỷ bởi các ký lục có trách nhiệm bảo quản chúng và chuyển trao chúng cho các thế hệ tương lai. Các bản thảo ấy, nhiều bản trong chúng ở trong tình trạng rời rạc, có nguồn gốc từ khoảng thế kỷ 2-10 sau Công Nguyên, hàng trăm năm sau khi xảy ra các biến cố mà chúng tường thuật. Không hề dễ dàng chút nào việc xác định xem bản thảo viết tay nguyên thủy của những bản sao ấy thì như thế nào, vì thế việc xác định ý niệm “linh hứng” là một việc không hề đơn giản.
Mặc dù những người theo chủ nghĩa cơ yếu bảo vệ lý thuyết về sự linh hứng trọn vẹn, ngày nay ít có ai chủ trương rằng linh hứng là ‘đọc từng chữ cho chép’ (nghĩa là Thiên Chúa trực tiếp đọc cho các tác giả nhân loại viết ra). Bằng “khoa phê bình bản văn”, các học giả có thể khảo sát các bản thảo trong đó có thể dò tìm ra các sai lỗi của nhân viên ký lục qua những khác biệt cỏn con nhất về cách diễn đạt trong các ngôn ngữ nguyên thủy– và điều đó đã cho thấy rằng không thể có chuyện ‘đọc cho chép’ ở đây. Tác giả được trích dẫn trên đây, Harold Lindsell, nhấn mạnh tính phù phiếm của giả thuyết ‘đọc cho chép’, mặc dù ông nhìn nhận rằng đó là một giả thuyết được kiên thủ bảo vệ nơi một số người cơ yếu bảo thủ thái quá.
Giả thuyết ‘linh hứng hoàn toàn từng chữ’ nhấn mạnh nhu cầu phải có sự chú giải từng chữ các bản văn Thánh Kinh, nhưng không phải trong hết mọi trường hợp. Như vậy, khi Thánh Kinh nói rằng thế giới được tạo dựng trong bảy ngày (St 1,1-2,4), thì đó là nó muốn chỉ một tuần (7 ngày x 24 giờ) như ý niệm thông thường của chúng ta về chữ “ngày”. Khi Thánh Kinh nói các bức tường Giê-ri-khô đổ nhào trong tiếng tù và vang dội (Gs 6,1-20), thì nghĩa là sự việc đã xảy ra đúng y như thế. Nhưng khi Thánh Kinh nói “nếu mắt ngươi nên dịp tội cho nguơi, hãy móc mắt đi” (Mt 5,29) hoặc “họ sẽ cầm rắn rết trong tay, và nếu họ uống phải chất độc, cũng chẳng bị hại gì” (Mc 16,18), thì không phải tất cả những người theo chủ nghĩa cơ yếu đều hiểu theo sát mặt chữ. Những người cơ yếu cũng nhìn nhận việc sử dụng các lối nói hình tượng trong Thánh Kinh, như biểu tượng, ẩn dụ, cường điệu … ngay cả trong khi họ vẫn chủ trương một lối giải thích thiên về mặt chữ. Phái duy Tin Mừng và các phái Tin Lành khác chủ trương một giả thuyết về linh hứng ít cứng nhắc hơn, đó là giả thuyết về “sự linh hứng từng chữ có giới hạn”, liên quan đến tính không sai lầm trong những vấn đề về đức tin hay luân lý hơn là liên quan đến lịch sử hay khoa học.
Như bạn đọc có thể nhận thấy, việc giải thích lý thuyết linh hứng là một công việc đầy gai góc. Những nỗ lực của những người theo chủ nghĩa cơ yếu trong việc giải thích cách thức mà sự linh hứng làm việc vẫn còn quá nhiều lấn cấn. Việc chấp nhận giả thuyết linh hứng từng chữ và trọn vẹn đặt người ta vào một chỗ thật lúng túng trước những tương phản trong Thánh Kinh.
Việc áp dụng Thánh Kinh thường là trung tâm của những tranh cãi về chú giải. Bằng cách nào chúng ta có thể áp dụng những bản văn cổ cho các hoàn cảnh mới của thời hiện đại? Khoa chú giải cổ bản (hermeneutics, Hy ngữ: “hermeneuõ”) tựu trung là một khoa giải thích. Người ta có thể nói rằng thách đố quan trọng thật sự đối với mọi Kitô hữu là học biết cách giải thích Thánh Kinh cho đúng đắn. Mọi thời đại, người ta đều phải phấn đấu để biết cách áp dụng Sách Thánh vào thời đại của mình và vào cuộc sống của mình. Về sự linh hứng, có nhiều giả thuyết khác nhau; thì cũng vậy, về chú giải, cũng có nhiều phương pháp khác nhau.
Về mặt chú giải, những người theo chủ nghĩa cơ yếu chủ trương một quan điểm có thể được gọi là “chuyển trực tiếp”. Nghĩa là Thánh Kinh có thể được trực tiếp áp dụng vào mọi vấn đề, không chỉ những vấn đề tôn giáo mà cả những vấn đề khoa học và lịch sử nữa. Một hệ quả của cách tiếp cận này, đó là Tân Ước giải thích Cựu Ước và thay thế cho Cựu Ước về mặt nghi thức nhưng không thay thế về mặt giáo huấn luân lý. Một lần nữa, có những người cơ yếu khác chủ trương một quan điểm rộng rãi hơn và nói rằng Thánh Kinh có thể được áp dụng trực tiếp trong những vấn đề về đức tin và luân lý mà thôi chứ không phải trong những vấn đề về khoa học hay lịch sử.
Bất cứ bản văn nào không rõ ràng đều được giải thích dựa vào những bản văn rõ ràng hơn, để cho những mâu thuẫn chỉ có tính biểu kiến hơn là thực. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu có những ‘tưởng tượng vòng vo’ trong việc chú giải để hòa hợp những mâu thuẫn rõ ràng trong Thánh Kinh. Chúng ta hãy xem xét vài ví dụ minh họa.
Một ví dụ tốt ở đây là cách đọc và hiểu Sáng Thế 1-2, bản văn mà phần đông các học giả xem là hai câu chuyện tách biệt nhau về sự sáng tạo được viết bởi những tác giả khác nhau vào những thời gian khác nhau. Đa số các học giả Thánh Kinh chấp nhận Sáng Thế 1 có nguồn gốc từ khoảng thế kỷ 6 trước Công Nguyên, do một nhóm ký lục quan tâm đến việc bảo vệ các truyền thống phụng vụ của Do Thái giáo (quan tâm về giản đồ 7 ngày sáng tạo và về ý niệm ngày sa-bát). Sáng Thế 2, đàng khác, là một truyền thống xuất hiện sớm hơn, nguyên sơ hơn, vào khoảng thế kỷ 10 trước Công Nguyên. Tuy nhiên, Những người theo chủ nghĩa cơ yếu không xem hai câu chuyện đó là tách biệt nhau, câu chuyện thứ nhất (St 1,1-2,4) có tính thi ca và câu chuyện thứ hai (St 2,4-25) có tính nhân hình hóa (anthropomorphic), nghĩa là mô tả Thiên Chúa bằng những đặc tính con người, như một thợ chạm thần linh tạo thành con người đầu tiên từ bụi đất. Đối với những người theo chủ nghĩa cơ yếu, đây không phải là một câu chuyện thứ hai về sáng tạo nhưng chỉ là những mô tả “chi tiết hóa” câu chuyện sáng tạo. Điều này làm cho những khác biệt trong các bản tường thuật chỉ có tính biểu kiến thôi chứ không thuộc bản chất. Họ cũng khẳng quyết rằng nhãn quan này về sáng tạo phải được dạy như một lý thuyết khoa học ngang hàng với thuyết tiến hóa. Họ chiến đấu cho cái mà họ gọi là “sáng tạo thuyết đầy tính khoa học” (scientific creationism). Trong suy nghĩ của họ, thuyết sáng tạo ấy cũng vững chắc như bất cứ thuyết nào khác. Họ kiên cường đấu tranh để bảo vệ giáo thuyết rằng Adam và Eva là những nhân vật cụ thể trong lịch sử.
Một ví dụ khác được tìm thấy trong khuynh hướng đan kết những trình thuật Thánh Kinh thành một trình bày thống nhất. Theo đó, khi các Tin Mừng Nhất lãm (Mátthêu, Máccô, Luca) mô tả việc Đức Giêsu thanh tẩy Đền Thờ xảy ra vào cuối sứ mạng công khai của Người, còn Gioan đặt biến cố đó vào đầu sứ mạng của Đức Giêsu, thì những người theo chủ nghĩa cơ yếu xem đó là hai trường hợp khác nhau, một trường hợp xảy ra trước, còn trường hợp kia xảy ra sau.[4] Phần đông các học giả không nghĩ rằng Đức Giêsu đã thanh tẩy Đền Thờ hai lần, xét vì bản chất không bình thường của cử chỉ ấy. Một giải thích có nhiều khả năng đúng hơn, đó là các soạn giả Tin Mừng thực hiện một sự phá cách ở đây – để đặt câu chuyện vào những chỗ khác nhau, vì những lý do thần học hơn là vì những lý do lịch sử.
Cái chết của Giuđa cung cấp một minh họa khác về cách mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu giải quyết những mâu thuẫn trong Thánh Kinh. Một trình thuật kể chuyện Giuđa treo cổ trong tuyệt vọng (Mt 27,5). Một trình thuật khác kể chuyện Giuđa ngã lộn đầu xuống, vỡ bụng, lòi cả ruột gan ra (Cv 1,18). Những người theo chủ nghĩa cơ yếu giải thích sự khác biệt bằng cách ghép hai trình thuật kia lại thành một câu chuyện liên tục. Họ giả thiết rằng Giuđa treo cổ gần một vách đá, dây thừng đứt và anh ta rơi xuống vách đá, lòi ruột ra. Đành rằng quan điểm ấy tự nó không phải là không thể, song nghe thật có vẻ vặn vẹo uốn ép việc giải thích một điều có nhiều khả năng là hai truyền thống khác nhau về cái chết của kẻ phản bội vốn được lưu truyền giữa các cộng đoàn khác nhau.
Điều quan trọng nhất trong sự chú giải của chủ nghĩa cơ yếu, đó là Lời Thiên Chúa không thể nào mâu thuẫn. Người ta phải tìm một chỗ khác để giải thích cho những mâu thuẫn biểu kiến. Tôi tưởng cũng cần ghi nhận ở đây rằng không phải tất cả những người theo chủ nghĩa cơ yếu đều ngây ngô về việc lưu truyền các bản văn Thánh Kinh. Một số trong họ nhìn nhận rằng một số bản sao Tân Ước bằng tiếng Hy lạp hay tiếng Hípri có thể chứa những lỗi so với nguyên văn, những lỗi này len vào do sự vô ý hoặc do tình trạng thiếu khả năng của một ký lục khi sao chép một bản văn trước đó. Tuy nhiên họ khẳng quyết rằng các bản thảo nguyên thủy không thể nào chứa những lỗi như thế.
Một khía cạnh khác liên quan đến khoa chú giải, đó là những người theo chủ nghĩa cơ yếu tuyên bố rằng ý nghĩa của các bản văn trong Thánh Kinh tự nó rõ ràng. Họ cho rằng hầu như bất cứ ai cũng có thể kiếm được một quyển Thánh Kinh và hiểu nó bởi vì ý nghĩa của các lời trong đó thật dễ hiểu. Thế nhưng, sự kiện chính quyển Thánh Kinh Scotfield Study được chú giải và chứa những ghi chú giải thích và diễn dịch dài dằng dặc đã làm rúng chuyển khẳng quyết nói trên. Ngay cả những người theo chủ nghĩa cơ yếu cũng cần sự giúp đỡ của các chuyên gia am hiểu để giúp họ trong việc giải thích Thánh Kinh. Văn chương cổ, dù là văn chương Thánh Kinh hay loại văn chương nào khác, cũng không phải luôn luôn dễ hiểu. Hơn nữa, vì Thánh Kinh được viết bằng thứ tiếng nước ngoài vốn chỉ một ít chuyên gia nắm hiểu (Hípri, Aram, Hy ngữ Koine), nên người Kitô hữu trung bình sẽ gặp bế tắc trong việc giải thích nếu không có sự trợ giúp của những công cụ hay những chuyên gia.
Văn chương tiên tri của Thánh Kinh là một lãnh vực khác nữa mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu có một cách giải thích riêng của mình. Vì phần lớn trong Thánh Kinh là những lời tiên tri và sự hoàn thành các lời tiên tri, nên những người theo chủ nghĩa cơ yếu quan tâm sâu sắc đến cách mà những lời tiên tri ấy được áp dụng vào hôm nay. Họ tin rằng Thánh Kinh trực tiếp hướng chỉ đến sự áp dụng vào hôm nay trong bối cảnh hiện đại này. Vì thế, các lời tiên tri hướng về hiện tại này hơn là quá khứ. Chẳng đáng ngạc nhiên việc những người theo chủ nghĩa cơ yếu bị hấp dẫn nhiều bởi những Sách Tiên Tri ly kỳ như Sách Đanien và Sách Khải Huyền. Họ tin rằng những sách ấy áp dụng trực tiếp cho thời đại hiện nay và mô tả sự đương đầu kịch liệt giữa thiện và ác, giữa Thiên Chúa và Satan, điều mà họ tin là đang diễn ra trong hiện tại này. Một cây bút theo chủ nghĩa cơ yếu đã viết những dòng sau đây – cho thấy đôi khi quan điểm này chật hẹp biết bao:
Lời Tiên tri Đanien… không phải là một sứ điệp cho… It-ra-en … cũng không phải là một sứ điệp cho Giuđa! Sự thật quá hiển nhiên, đó là những lời tiên tri này được viết CHO CHÚNG TA TRONG THỜI ĐẠI HƠM NAY, chứ không phải cho bất cứ dân nào của thời nào trước đây! Những lời tiên tri ấy hướng chỉ đến tình trạng thế giới hôm nay, và mãi cho tới hôm nay mới có thể được hiểu hết!… Thật quá rõ rằng những lời tiên tri ấy không nhắm đến thời đại nào cả ngoại trừ thời đại của chúng ta trong thế kỷ 20 này![5]
Bản văn có một nhãn quan thật quá khích, nhưng nó minh họa rất tốt cho khuynh hướng của những người theo chủ nghĩa cơ yếu muốn giải thích Thánh Kinh bên ngoài bối cảnh lịch sử của Thánh Kinh. Việc áp dụng trực tiếp chiếm ưu tiên hơn việc diễn dịch căn cứ trên lịch sử. Trong thời điểm năm 2000, khi ngàn năm thứ ba của Kitô giáo đang đến gần, một số người theo chủ nghĩa cơ yếu trở nên bị ám ảnh với ý tưởng rằng sự đến lần thứ hai của Đức Kitô đang gần kề và rằng các lời tiên tri của Thánh Kinh đang đi đến chỗ được hoàn thành đầy đủ. Thái độ này không hề mới trong Kitô giáo. Có những giai đoạn trong lịch sử, nhất là xung quanh những niên đại đặc biệt như giao thừa thế kỷ hay thiên niên kỷ, vẫn có những nhóm người có thái độ như thế. Một số khía cạnh của lời tiên tri Thánh Kinh xem ra dễ gây sự chộn rộn đó, chẳng hạn loại văn chương khải huyền của Thánh Kinh (ví dụ, Sách Đanien; Isaia 24-27; Dcr 9-14; Mc 13; Mt 24-25; Sách Khải Huyền). Những đặc điểm của loại văn chương khải huyền này trùng với nhãn quan của những người theo chủ nghĩa cơ yếu, bao gồm các thái độ sau đây:
¨ Một cái nhìn nhị nguyên về thế giới trong đó bất cứ gì cũng hoặc đúng hoặc sai, không có chỗ cho trung dung.
¨ Xác tín rằng sự dữ đang sinh sôi nẩy nở tràn lan trên thế giới và các tình trạng đang càng ngày càng tệ hơn.
¨ Một niềm tin theo thuyết tiền định rằng Thiên Chúa đã ấn định trước các kết quả của lịch sử nhân loại.
¨ Một niềm tin mạnh mẽ rằng một cuộc đương đầu khủng khiếp giữa Thiên Chúa và Satan sẽ đưa lịch sử nhân loại tới hồi kết cục và cuối cùng thiết lập vương quốc công chính.
¨ Một tiếng mời gọi khẩn thiết tất cả mọi người sống một đời sống chính trực đạo đức hơn để chuẩn bị cho chiến thắng của Thiên Chúa trên sự dữ.
Vì những người theo chủ nghĩa cơ yếu tin rằng những lời tiên tri trực tiếp áp dụng cho thời đại chúng ta, nên họ không quan tâm mấy đến vấn đề bản văn ấy có nghĩa gì khi nó được viết ra cho bằng quan tâm đến sự áp dụng bản văn ấy vào thời đại hôm nay. Cuối thế kỷ 20, chẳng hạn, các khía cạnh của Sách Khải Huyền được qui chiếu đến nước Nga và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản. Sức lôi cuốn đến văn chương khải huyền như thế đem lại cho sứ điệp của những người theo chủ nghĩa cơ yếu nhiều tính khẩn cấp. Nó cũng củng cố ý tưởng rằng họ, cũng như nhiều tiên tri và các thánh trước họ, sẽ phải chịu đau khổ lớn lao để phục vụ cho việc loan báo sứ điệp Tin Mừng. Họ tin rằng cuối cùng họ sẽ chiến thắng và sẽ thuộc về số người được Thiên Chúa tuyển chọn vào Vương Quốc trên trời.
Đó là những yếu tố chính trong cách tiếp cận Thánh Kinh của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Họ lưu tâm đến các ý tưởng nòng cốt về thẩm quyền và về qui điển, về linh hứng, chú giải và về các lời tiên tri. Cố nhiên, việc giải thích các bản văn đặc biệt rất khác nhau tùy theo những mối quan tâm chuyên biệt khác nhau, nhưng cách tiếp cận căn bản của những người theo chủ nghĩa cơ yếu đều theo những nguyên tắc và những giả định như được phác họa trên đây. Bây giờ chúng ta hãy thử mô tả cách đại lược nhãn quan của Công Giáo về Thánh Kinh – để đối chiếu với cách tiếp cận của những người cơ yếu.
========================================
[1] năm 367 sau Công Nguyên là thời điểm của bức thư Lễ Phục Sinh lần thứ 39 của Thánh Athanasiô, bức thư này liệt kê qui điển Thánh Kinh như ta có hôm nay.
[2] apostolic authorship, nghĩa là khi tác giả là chính các Tông Đồ hoặc là một người khác (chẳng hạn một môn đệ) ghi lại những giáo huấn của các Tông Đồ. (ctcnd)
[3] Harold Lindsell, The Battle of the Bible, Grand Rapids, Mich.: Eerdmans, 1976, 30-31.
[4] Cf. Mt 21,12-13; Mc 11,15-17; Lc 19,45-46; Ga 2,13-17
[5] Lloyd J. Averill, Religious Right, Religious Wrong, New York: Pilgrim Press, 1989, 133.
Chúng ta sẽ đối chiếu như thế nào đây giữa phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của những người theo chủ nghĩa cơ yếu và phương pháp của Công Giáo? Đành rằng không có sự đối ứng song song giữa hai phương pháp tiếp cận, nhưng tất cả những vấn đề được nêu trên có thể được xem xét bằng cách này hay cách khác. Sau vài ý tưởng dẫn nhập, tôi sẽ phác họa những nguyên tắc chính của một phương pháp tiếp cận Thánh Kinh theo Công Giáo.
Đầu tiên, chúng ta phải nhìn nhận rằng chính tổ chức của Giáo Hội Công Giáo vốn đã rất khác với các cộng đoàn của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Công Giáo có một cơ cấu phẩm trật hướng dẫn Giáo Hội. Không giống như các cộng đoàn những người cơ yếu, Giáo Hội Công Giáo có một hệ thống giáo huấn chính thức về Thánh Kinh, làm thành một phần của huấn quyền (hệ thống giáo huấn chính thức của Công Giáo). Hệ thống này vạch cho thấy rõ phạm vi của sự chú giải Thánh Kinh theo Công Giáo. Hơn nữa, vì sự trân trọng của Giáo Hội Công Giáo đối với Thánh Kinh, đã có hẳn một bộ phận chính thức phụ trách việc giám sát các công cuộc nghiên cứu Thánh Kinh. Giáo Hoàng Lêô XIII đã thành lập Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh vào năm 1902, bao gồm một nhóm chuyên gia quốc tế về Thánh Kinh. Mục đích của ủy ban này là phát triển việc nghiên cứu Thánh Kinh của Công Giáo đặt dưới thẩm quyền của Tòa Thánh.
Một khía cạnh thứ hai của nhãn quan Công Giáo là sự chấp nhận các phương pháp khoa học hiện đại trong việc nghiên cứu và chú giải Thánh Kinh. Thật ra không chỉ người Công Giáo mới đón nhận những phương pháp mới mẻ có tính phê bình lịch sử trong lãnh vực nghiên cứu Thánh Kinh. Đa số các giáo phái Tin Lành kỳ cựu đều cũng làm thế. Vì thế, sự tương phản không nằm giữa hai phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo và những người theo chủ nghĩa cơ yếu, nhưng là nằm giữa những người chấp nhận sự nghiên cứu khoa học về Thánh Kinh và những người không chấp nhận điều này. Trong khi những người theo chủ nghĩa cơ yếu cho rằng nghiên cứu Thánh Kinh như thế là phá hoại thẩm quyền của Thánh Kinh, thì Giáo Hội Công Giáo lấy việc nghiên cứu Thánh Kinh có tính khoa học, khách quan làm thiết yếu. Một cách căn bản, trong khi những người theo chủ nghĩa cơ yếu chiến đấu chống lại tính hiện đại thì người Công Giáo lại chấp nhận công cụ này.
Nhận định thứ ba trong phần dẫn nhập này là một ghi nhận lịch sử. Đã từng có thời Công Giáo cũng có cách tiếp cận Thánh Kinh chủ yếu giống như cách của những người cơ yếu. Trước thế kỷ 20, Giáo Hội Công Giáo cũng ái ngại và ngờ vực việc nghiên cứu khoa học về Thánh Kinh không kém chi so với nhiều Kitô hữu khác, mặc dù Thánh Kinh không được thấy là nổi bật trong đời sống hằng ngày của người Công Giáo so với người Tin Lành. Hai bản văn trong thông điệp của Giáo Hoàng Lêô XIII về Thánh Kinh[1] có thể minh họa điều này:
Vì tất cả những sách mà Giáo Hội đón nhận như là Sách Thánh và thuộc qui điển – xét trong mọi phần của chúng -đều được viết hoàn toàn dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần; thì cũng vậy, không thể có một sai lỗi nào có thể cùng tồn tại với sự linh hứng, sự linh hứng không chỉ không thể tương hợp với sự sai lỗi, mà còn đào thải nó một cách dứt khoát và thiết yếu như thể sự thật rằng Thiên Chúa, Đấng là Chân Lý tối thượng, thì không thể nói ra một điều gì sai lầm.
… Ai quả quyết rằng sai lầm có thể xảy ra trong các bản văn Sách Thánh thì người đó hoặc đang xuyên tạc quan niệm Công Giáo về linh hứng hoặc cả quyết rằng Thiên Chúa là tác giả của sự sai lầm (338,340).
Có thể ghi nhận rằng ngôn ngữ như vậy không khác mấy với quan điểm đặc trưng của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Chúng ta không phủ nhận rằng thông điệp này đem lại nhiều ánh sáng, song cũng phải chấp nhận rằng một số ý tưởng trong thông điệp vẫn còn luẩn quẩn trong nhãn quan tiền khoa học. Vào thế kỷ 19, Giáo Hội chưa có sự phân biệt trong Thánh Kinh giữa sự không sai lầm về mặt khoa học và lịch sử và không sai lầm về luân lý và về đức tin.
Ngay cả hồi đầu thế kỷ 20, Giáo Hội Công Giáo cũng chống lại những nghiên cứu khoa học dẫn tới các kết luận không tương hợp với giáo huấn Công Giáo về Thánh Kinh. Chẳng hạn, có lúc Giáo Hội đã phản kháng lại kết luận của các học giả rằng rất có thể không phải chính tay Môsê đã viết năm quyển đầu tiên của Cựu Ước (Ngũ Thư), như truyền thống cổ của Do thái và Kitô giáo chủ trương. Trái lại, có những chứng cứ vững chắc cho thấy có nhiều tác giả đã viết nên Ngũ Thư trong những trường hợp khác nhau và qua các giai đoạn khác nhau. Đã có thời Giáo Hội Công Giáo bác bỏ những giả thuyết mới này và chủ trương rằng quyền tác giả chính thức của Ngũ Thư thuộc về Môsê. Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh đã tấn công những giả thuyết khoa học như thế trong một loạt những giáo huấn từ năm 1905 đến 1915, sau đó thì thấy im luôn.
Chúng ta cần ghi nhận rằng, trong lịch sử của mình dù có một số khuynh hướng nghiêng về chủ nghĩa cơ yếu, Giáo Hội Công Giáo cũng đã phản kháng việc dùng thuật ngữ “tính không sai lầm” (inerrancy) cho Thánh Kinh. Theo chỗ tôi được biết, từ ngữ ấy chưa bao giờ được sử dụng trong giáo huấn chính thức của Giáo Hội ở cấp độ của một công đồng chung. Từ ngữ ấy đã trở thành cơ hữu của một thế giới quan vốn nghiêng về sự diễn dịch Thánh Kinh quá sát mặt chữ. Vatican II sử dụng thành ngữ “mà không sai lầm” (without error) để tránh ám chỉ rằng Thánh Kinh trình bày chính xác về khoa học và lịch sử.[2] Mặc dù dưới đây tôi sẽ bàn thêm về sự phân biệt này, nhưng ngay ở đây cần ghi nhận rằng quan điểm của Giáo Hội Công Giáo về sự không sai lầm trong Thánh Kinh chỉ bao gồm các giáo huấn về tín lý và luân lý, không bao gồm lãnh vực khoa học và lịch sử. Hơn nữa, quan điểm ấy cho phép sự phát triển của nhãn quan luân lý trong Thánh Kinh, nhìn nhận rằng cái nhìn luân lý được đào sâu qua thời gian. Không phải mọi giáo huấn luân lý trong Thánh Kinh đều có trọng lượng như nhau.
Năm 1943, kỷ niệm 50 năm thông điệp của Giáo Hoàng Lêô XIII, nhãn quan của Giáo Hội Công Giáo về sự chú giải Thánh Kinh đã thay đổi một cách ngoạn mục. Giáo Hoàng Piô XII công bố một thông điệp gây chấn động về những công cuộc nghiên cứu Thánh Kinh có tác dụng bật đèn xanh cho các học giả Công Giáo sử dụng mọi phương tiện khoa học có thể được để khám phá Thánh Kinh nhằm giải thích ý nghĩa của nó. Sau đây là một trích dẫn từ thông điệp này, Thông Điệp Divino Afflante Spiritu:
Được chuẩn bị cặn kẽ bởi sự hiểu biết về các cổ ngữ và bởi những sự trợ giúp của khoa phê bình, các nhà chú giải Công Giáo hãy đảm nhận công việc cao quí nhất được trao cho mình, đó là khám phá và giải thích ý nghĩa đích thực của các Sách Thánh. Khi tiến hành công việc này, các nhà chú giải hãy luôn ghi nhớ rằng mình cần hết sức chú tâm để biện phân và xác định rõ ràng ý nghĩa của các lời Thánh Kinh. Được hỗ trợ bởi văn mạch và nhờ đối chiếu với những bản văn tương tự, họ hãy dựa vào sự hiểu biết của mình về các ngôn ngữ để cẩn thận tìm ra ý nghĩa mặt chữ của các từ… sao cho tư tưởng của tác giả có thể được sáng tỏ (23).
Quan điểm trên đây cho thấy một chuyển biến so với thông điệp của Giáo Hoàng Lêô XIII. Nó không chỉ cung cấp sự thúc đẩy cần thiết cho các học giả Công Giáo phát triển và thực hành các kỹ năng của mình ở mức tối đa, nhưng nó còn hướng dẫn các nhà chú giải Công Giáo làm công việc của mình một cách tự do, không e sợ bị rắc rối hay bị bài xích. Đành rằng rất hiếm lần Giáo Hội chính thức tuyên bố về ý nghĩa của những bản văn riêng biệt nào đó, vẫn có một đoạn trong thông điệp của Giáo Hoàng Piô XII kêu gọi tất cả mọi người Công Giáo biểu dương và trân trọng công lao của các học giả Thánh Kinh là những người khám phá ra kho tàng mênh mông các dữ kiện Thánh Kinh nhờ đó có thể xác định được các ý nghĩa thâm sâu nhất. Giáo Hoàng viết:
Vì thế trong việc thảo luận và giải thích, vẫn còn nhiều điều hết sức quan trọng trong đó các kỹ năng của nhà chú giải Công Giáo có thể và cần phải được giải phóng, để cho mỗi nhà chú giải có thể đóng góp phần của mình vào tiến bộ của toàn thể, phục vụ cho cuộc tiến triển không ngừng của giáo thuyết thánh (47).
Kể từ khi thông điệp này được công bố, các học giả Công Giáo đã công khai dấn thân vào việc nghiên cứu Thánh Kinh theo khoa học. Nhiều kết quả của công cuộc nghiên cứu này đã ảnh hưởng đến các văn kiện của Công Đồng Vatican II và tiếp tục tác động đến đời sống của Giáo Hội sau Công Đồng. Các chuyên gia Thánh Kinh Công Giáo, theo một nghĩa nào đó, đã đến tuổi trưởng thành. Trong chỉ một thời gian ngắn, các học giả Thánh Kinh Công Giáo bắt kịp và sánh vai với các học giả Thánh Kinh Tin Lành, sử dụng cùng những phương pháp và công cụ khoa học, mặc dù chú giải từ trong góc độ đức tin của Giáo Hội Công Giáo. Những cái tên như Raymond E. Brown, S.S., Joseph A. Fitzmyer, S.J., và Roland E. Murphy, O.Carm, trở thành nổi tiếng tầm cỡ quốc tế trong tư cách là những chuyên gia Thánh Kinh được công nhận song song với những đồng nghiệp của họ bên Tin Lành. Trước họ, một số đàn anh ít nổi tiếng hơn đã âm thầm thực hiện những bước tiến bộ đáng kể trong lãnh vực nghiên cứu Thánh Kinh trong các thư viện và các tu viện mà công chúng không hề nhận ra hoặc chỉ được nhận ra bởi giới học giả mà thôi. Sự nghiên cứu của họ đã giúp đặt nền móng cho Vatican II. Vô số các học giả Công Giáo khác đã theo sự hướng dẫn của họ trong việc nghiên cứu Thánh Kinh theo khoa học. Sự phát triển này cũng cho thấy rằng phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo đã không trôi vào con đường của chủ nghĩa cơ yếu nhưng là hướng đến khoa nghiên cứu phê bình hiện đại về Thánh Kinh, điều mà chủ nghĩa cơ yếu chống lại.
Một tuyên bố đại kết gần đây được thực hiện giữa những người Báp-tít miền Nam và những người Công Giáo Rôma nêu ra một so sánh các phương pháp tiếp cận Thánh Kinh. Một đàng, tuyên bố ấy nhìn nhận sự nhất trí kính trọng đối với Thánh Kinh được chia sẻ bởi cả hai bên. Cả hai bên đều sử dụng Thánh Kinh làm sự hướng dẫn tâm linh. Cả hai bên đều cùng tuyên xưng đức tin như nhau về một số giáo thuyết căn bản. Tuy nhiên, bản báo cáo vẫn nhấn mạnh những khác biệt còn tiếp tục tồn tại:
Chúng tôi, những người Báp-tít miền Nam và những người Công Giáo Rôma cùng tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và chúng tôi tuyên xưng thần tính trọn vẹn và nhân tính hoàn hảo của Đức Giêsu Kitô … Trên nền tảng những niềm xác tín cốt lỡi này, chúng tôi đề cập đến những vấn đề quan trọng mà người Công Giáo Rôma và những người Báp-tít miền Nam khác biệt nhau về mặt lịch sử, trong đó bao gồm sự linh hứng và thẩm quyền của Thánh Kinh, về tính không sai lầm và bất khả ngộ của nó, về vai trò của Giáo Hội trong việc giải thích các Sách Thánh, và về bản chất và ý nghĩa của các phương pháp phê bình lịch sử đối với việc nghiên cứu Thánh Kinh.[3]
Bản báo cáo tiếp tục mô tả ngắn gọn chi tiết những khác biệt này thuộc những lãnh vực mà chúng ta đề cập trong sách này, chẳng hạn về mạc khải và Lời Thiên Chúa, về tính không sai lầm và bất khả ngộ của Thánh Kinh, về sự nghiên cứu khoa học về Thánh Kinh, và về ngữ nghĩa (terminology) của chủ nghĩa cơ yếu.
Với nhận định dẫn nhập cuối cùng, tôi muốn đưa ra một số cột mốc lịch sử trong giáo huấn Công Giáo về Thánh Kinh. Những cột mốc này cho thấy truyền thống lâu dài đã phát triển xuyên qua các thời đại dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Giáo huấn Công Giáo về Thánh Kinh không hề đứng yên tại chỗ. Nó đã tiến hóa qua thời gian, nhất là trong hai trăm năm trở lại đây, để trở thành một tổng hợp tinh vi. Ở đây tôi chỉ muốn lưu ý tới một vài văn kiện quan trọng nhất và ý nghĩa của chúng:
¨ Công Đồng Trent, khóa thứ tư, năm 1546: khóa này cuối cùng đã giải quyết được tất cả những điều chưa chắc chắn về qui điển các Sách Thánh mà người Công Giáo sử dụng. Danh sách các sách chính thức là danh sách của qui điển Công Giáo như ta thấy hiện nay. Công Đồng này cũng khẳng định tính ưu tiên của bản Thánh Kinh Vulgata (bản dịch La tinh bắt nguồn từ Thánh Giêrôm) trong sự sử dụng chính thức của Công Giáo.
¨ Công Đồng Vatican I, Hiến Chế Dei Filius, 1870: Công Đồng này khẳng định có sự linh hứng của Thánh Kinh và khẳng định rằng Thiên Chúa là tác giả tối thượng của các Sách Thánh.
¨ Providentissimus Deus, thông điệp của Giáo Hoàng Lêô XIII, 1893: thông điệp đặc sắc này đề ra một kế hoạch cho các học giả Công Giáo sử dụng một số phương pháp nghiên cứu Thánh Kinh hiện đại đang nổi lên vào thế kỷ19. Tuy nhiên, thông điệp cũng cảnh báo những nguy hiểm của một số nghiên cứu khoa học nào đó và khả năng bị lung lạc bởi các giải thích sai lầm. Thông điệp cũng cổ võ một cách hiểu không ngụy biện đối với “tính không sai lầm”, không phân biệt giữa các vấn đề thực tế, lịch sử trong Thánh Kinh với các vấn đề luân lý và tôn giáo.
¨ Muời bốn quyết định của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, 1905-1915: Theo một nghĩa nào đó, những quyết định này cho thấy một bước lùi, nhưng không hoàn toàn. Những quyết định này nhắm nói đến những quá đà của sự giải thích dựa vào một khám phá có tính “hiện đại” nào đó về các Sách Thánh. Âm sắc khá bảo thủ của những giáo huấn này đã có tác dụng bịt miệng một số học giả Thánh Kinh Công Giáo quan trọng, như học giả lừng danh của Dòng Đa Minh Marie-Joseph Lagrange, người đã thành lập Học Viện Thánh Kinh Giê-ru-sa-lem nổi tiếng.
¨ Spiritus Paraclitus, thông điệp của Giáo Hoàng Bênêđictô XV, 1920: công bố vào dịp kỷ niệm 1.500 năm ngày qua đời của Thánh Giêrôm, vị học giả Thánh Kinh vĩ đại hồi thế kỷ 4 – 5. Thông Điệp hơi bảo thủ này biểu dương các học giả Thánh Kinh tuân theo các hướng dẫn được ban hành bởi Giáo Hoàng Lêô XIII và sử dụng các phương pháp nghiên cứu có tính phê bình hiện đại. Thông Điệp cũng cảnh giác chống lại những người đánh giá thấp giá trị lịch sử của một số phần trong Thánh Kinh.
¨ Divino Afflante Spiritu, thông điệp của Giáo Hoàng Piô XII, 1943: Đây là văn kiện chính thức quan trọng nhất mở ra khoa chú giải phê bình hiện đại của Công Giáo về Thánh Kinh. Thông điệp khẳng định rằng Thánh Kinh không chứa sai lầm nào về đức tin và luân lý, nhưng nó cũng tôn trọng chiều kích nhân loại của Lời Thiên Chúa. Các học giả Công Giáo được thúc đẩy tập chú đến ý nghĩa mặt chữ của Sách Thánh trong khi vẫn nhạy cảm với nhiều ý nghĩa sâu xa khác nói lên chiều kích thiêng liêng của nó.
¨ Huấn Thị của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, “Về Chân Lý Lịch Sử Của Các Sách Tin Mừng”, 1964: Văn kiện này có sắc thái đặc biệt ở chỗ nó nhìn nhận các truyền thống nhiều tầng được tìm thấy trong các Sách Tin Mừng thuộc qui điển. Nó giải thích tiến trình ba mặt qua đó các Sách Tin Mừng được hình thành: truyền khẩu, ghi chép, và biên tập. Mỗi truyền thống này tương ứng với những khung thời gian riêng: thời gian của Đức Giêsu và các tông đồ, thời gian rao giảng và sưu tập các truyền thống của các môn đệ sau này, và thời gian của các soạn giả Tin Mừng là những người cuối cùng sưu tập và hiệu đính các truyền thống ấy cho những cộng đoàn riêng của mình. Tiến trình này giúp giải thích tại sao ý nghĩa mặt chữ của các Sách Tin Mừng không luôn luôn nói lên “sự thật lịch sử” như chúng ta có thể ngây ngô quan niệm như thế. Việc biện phân kỹ lưỡng các tầng của truyền thống và mối quan tâm thần học của chúng là điều cần thiết để trả lời cho các vấn nạn lịch sử.
¨ Vatican II, Dei Vebum, Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải thần linh, 1965: Đây là văn kiện nền tảng nhất bởi vì nó là hiến chế tín lý của Giáo Hội được hình thành bởi một công đồng chung. Giáo huấn bao quát của nó khẳng định giáo thuyết căn bản của Công Giáo về Thánh Kinh, chẳng hạn, về linh hứng, về sự không sai lầm trong những vấn đề về đức tin và luân lý, về chiều kích nhân loại của các Sách Thánh là những Sách vốn truyền đạt sứ điệp thần linh theo như Thiên Chúa muốn, và về sự thật rằng Thánh Kinh là “linh hồn của thần học”. Hiến Chế cũng ghi nhận mối quan hệ phức tạp của Thánh Kinh và Truyền Thống trong tư cách là những nguồn mạch của mạc khải thần linh có sức trao ban sự sống cho Giáo Hội, và Hiến Chế cũng khích lệ các học giả Thánh Kinh Công Giáo đảm nhận công việc quan trọng của mình.
¨ Huấn Thị của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, “Việc Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội”, 1993: Đây là phán quyết chính thức có tính bao quát nhất về nhiều phương pháp hiện đại khác nhau trong việc nghiên cứu Thánh Kinh theo khoa học vốn nở rộ trong thời đại chúng ta, cả những phương pháp phê bình lịch sử lẫn những phương pháp mới hơn. Huấn Thị này nhận định về mỗi phương pháp ấy. Chỉ có chủ nghĩa cơ yếu bị phê phán kịch liệt là không tương hợp với cách tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo.
¨ Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, số 101-141, 1997 (bản in lần thứ 2): Dĩ nhiên nguồn này là tổng hợp súc tích và tiện lợi nhất các giáo huấn của Giáo Hội về Thánh Kinh. Sách giáo lý này thường xuyên trích dẫn các nguồn trước đó như các văn kiện của Vatican II, các thông điệp Giáo Hoàng , các tuyên bố của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, cũng như các nguồn xa xưa khác (chẳng hạn, các Giáo Phụ).
Ngay cả dù bảng liệt kê các cột mốc này không thể hiện được hết tầm rộng và các sắc thái của giáo huấn Giáo Hội về Thánh Kinh, người ta có thể thấy rằng đó là sự phát triển của một truyền thống. Giáo Hội đã không có một quan điểm cứng nhắc về cách tiếp cận các Sách Thánh để nhận định ý Thiên Chúa. Quan điểm của Công Giáo đã tiến bộ từ cái nhìn chủ yếu có tính tiền phê bình và phi sử tính về Thánh Kinh (giống với chủ nghĩa cơ yếu) tới một cái nhìn đặc sắc và có ý thức hơn về lịch sử, đối nghịch với phương pháp tiếp cận của chủ nghĩa cơ yếu.
Xuất phát từ những giáo huấn chính thức khác nhau của Giáo Hội Công Giáo, nhất là như được trình bày trong Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, tôi sẽ tổng lược những đặc điểm chính của phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo.
(1) Rất căn bản trong phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo là sự chấp nhận hai nguồn có quan hệ hỗ tương nhau trong việc nhận biết thánh ý Thiên Chúa, đó là Thánh Kinh và Truyền Thống. Vì vậy, trước hết, Công Giáo có một lập trường căn bản đối nghịch lại quan niệm sola scriptura của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Vatican II nói:
Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa … Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu. Cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh đã và đang được Giáo Hội xem như là qui luật tối cao hướng dẫn đức tin.[4]
Trích dẫn trên đây cho thấy mối nối kết thiết yếu giữa Thánh Kinh, trong tư cách là Lời thánh của Thiên Chúa, với Truyền Thống quyền giáo huấn của Giáo Hội. Trong quan điểm Công Giáo, Thánh Kinh rất quan trọng nhưng nó không phải là nguồn duy nhất của mạc khải. Tuy nhiên, chúng ta ghi nhận rằng hai tiếng “Truyền Thống” (viết hoa) không nhằm nói đến các truyền thống mà chúng ta nhớ lại khi chúng ta lớn lên. Đúng hơn, nó qui chiếu đến huấn quyền của Giáo Hội qua các thời đại khi Giáo Hội giải thích các Sách Thánh, tương tác với Sách Thánh, và thiết định những giáo thuyết trình bày mạc khải của Thiên Chúa theo những gì mà con người có thể biết về mạc khải ấy. Chúng ta cũng cần đề cập rằng quan điểm của Công Đồng Vatican II không xác định một cách chính xác mối quan hệ hỗ tương phức tạp giữa Thánh Kinh và Truyền Thống. Hai đàng không đối nghịch nhau, cũng không phải là hai nguồn hoàn toàn phân biệt với nhau. Đúng hơn, chúng đan kết vào nhau nhưng vẫn phân biệt đủ để mỗi bên nhận một căn tính riêng. Chúng thiết lập “trạm” của mạc khải, song với những căn tính riêng. Quan điểm Công Giáo một cách mặc nhiên nhìn nhận rằng không phải mọi giáo huấn của Giáo Hội đều có thể được tìm thấy trong các Sách Thánh. Thánh Thần tiếp tục hướng dẫn Giáo Hội hiểu mạc khải của Thiên Chúa khi mạc khải ấy tiến hóa và được biểu lộ qua các thời đại. Các Sách Thánh sẽ luôn luôn đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình này, nhưng đó không phải là thẩm quyền duy nhất của đức tin chúng ta. Quyền giáo huấn sống động của Giáo Hội đảm trách việc ấn định tối hậu ý nghĩa của Thánh Kinh khi cần, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
(2) Giáo Hội Công Giáo cũng nhìn nhận một loại “tính không sai lầm” của Thánh Kinh, nhưng chỉ về đức tin và luân lý, không phải về khoa học và lịch sử. Tuy nhiên, người Công Giáo tránh dùng từ ngữ “tính không sai lầm” ấy vì nó dễ gợi nghĩ đến cách diễn dịch của những người chủ trương theo sát mặt chữ. Trích dẫn sau đây từ Hiến Chế Mạc Khải có thể minh họa cho quan điểm Công Giáo:
Vì phải xem mọi lời các tác giả được linh hứng viết ra, tức các thánh sử, là những lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại vì phần rỗi của chúng ta (số 11).
Khẳng định trên đây về sự không sai lầm củng cố sự nhận hiểu rằng các Sách Thánh được linh hứng bởi Thiên Chúa, khẳng định ấy được kết hợp với bổn phận diễn dịch các Sách Thánh một cách kỹ lưỡng xuyên qua việc khám phá các ý nghĩa của chúng:
Tuy nhiên vì trong Thánh Kinh, Thiên Chúa đã nhờ loài người và dùng cách nói của loài người mà phán dạy, nên để thấy rõ điều chính Ngài muốn truyền đạt cho chúng ta, nhà chú giải Thánh Kinh phải cẩn thận tìm hiểu điều các thánh sử có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời lẽ của họ. (Dei Verbum, số 12)
Hàm chứa trong lập trường này là sự nhìn nhận rằng các nhà chú giải phải lưu tâm đến các thể văn đa dạng trong Thánh Kinh. Các tác giả Thánh Kinh sử dụng nhiều thể văn khác nhau (tường thuật, thi ca, thánh ca, luật pháp, dụ ngôn, câu chuyện phép lạ, ngạn ngữ, châm ngôn, thị kiến khải huyền, vv…). Những thể văn ấy đòi hỏi phải được biện phân thấu đáo để đạt được sự nhận hiểu chính xác ý nghĩa mà chúng muốn nói. Vai trò trung gian có ảnh hưởng đến sứ điệp. Một nội dung quan trọng thực tiễn khác nữa của quan điểm Vatican II, đó là sự chú giải của Công Giáo về một bản văn Sách Thánh sẽ không bị phiền phức bởi những chi tiết không nhất quán hay không chính xác có chứa đựng trong các bản văn cổ. Trong văn chương cổ xưa, sai lầm của con người về mặt lịch sử và khoa học là chuyện khá bình thường, và Thánh Kinh không phải là một ngoại lệ. Chúng ta hãy lấy một vài ví dụ.
Về các câu chuyện sáng tạo trong Sách Sáng Thế, quan điểm của Công Giáo là không hiểu sát mặt chữ trong mọi chi tiết. Thật vậy, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chỉ ra rõ ràng rằng thuyết tiến hóa của khoa học không nhất thiết bất tương hợp với các câu chuyện trong Sách Sáng Thế về sáng tạo. Chúng ta nhận ra rằng các câu chuyện Sáng Thế 1-11 mặc lấy thứ ngôn ngữ thần thoại vốn hoàn toàn tương hợp với nhãn quan của nhiều nền văn hóa Cận Đông cổ thời, khoảng thế kỷ 10–9 trước Công Nguyên, tức thời gian mà hầu như các câu chuyện ấy đã được viết ra. Đây không phải là khẳng định rằng thuyết tiến hóa của khoa học là một giả thuyết hoàn toàn đúng. Đó vẫn chỉ là một giả thuyết, song không phải là một giả thuyết mâu thuẫn với các trình thuật Thánh Kinh. Thay vào đó, các trình thuật Thánh Kinh được nhận ra là một chuỗi sự kiện không mang tính khoa học song mục đích chính của nó là khẳng định rằng chính Thiên Chúa quyết định sự sáng tạo và công cuộc sáng tạo đó thật tốt đẹp. Như vậy Adam và Eva không nhất thiết phải là những con người cụ thể trong lịch sử, mà là những khuôn mặt đại diện cho những con người đầu tiên. Giáo huấn Công Giáo chỉ khẳng quyết rằng một lúc nào đó Thiên Chúa đã đặt vào loài người một linh hồn phân biệt giữa con người với các sinh vật khác, điều này không hề mâu thuẫn với lý thuyết tiến hóa.
Một ví dụ khác đến từ Tân Ước. Công Giáo dạy rằng các Sách Tin Mừng bao gồm ba giai đoạn của truyền thống về Đức Giêsu diễn tiến qua thời gian. Ba truyền thống đó là: (a) đời sống thực và giáo huấn của Đức Giêsu, (b) những truyền thống truyền khẩu cắm rễ trong hoạt động rao giảng của các môn đệ đầu tiên, và (c) các truyền thống ghi chép thành văn được sưu tập và hiệu đính thành các Sách Tin Mừng như chúng ta biết.[5] Việc nhận ra tiến trình này sẽ cho phép người ta giải quyết những bản văn có thể mâu thuẫn nhau, những bản khác nhau nói về cùng một câu chuyện căn bản, những sự bồi đắp thêm các chi tiết khi các câu chuyện được kể đi kể lại qua nhiều chục năm, vân vân … Không cần phải hòa hợp mọi mâu thuẫn biểu kiến hay kết dệt thành một câu chuyện duy nhất những chi tiết về cuộc sinh hạ, đời sống, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu. Người Công Giáo nhìn nhận các Sách Tin Mừng là một sưu tập các truyền thống truyền khẩu, ghi chép thành văn và hiệu đính – đã phát triển trong những bối cảnh khác nhau trong các thập niên đầu tiên của cộng đoàn Kitô giáo. Như vậy, chúng có thể chứa những nhãn giới khác nhau không luôn luôn hòa hợp với nhau. Trong tình trạng chúng đang hiện hữu, chúng không phải là những trình thuật trực tiếp tại chỗ về sứ vụ của Đức Giêsu nhưng là những trình bày thần học về các câu chuyện Đức Giêsu Nadarét.
(3) Phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo chấp nhận sự cần thiết phải đọc bản văn theo từ ngữ nguyên bản, nhưng đồng thời phải đi xa hơn thế. Đọc Thánh Kinh theo nghĩa từ ngữ (nghĩa là quan tâm đến ý nghĩa đen của các từ ngữ) là một chuyện. Còn đọc một cách bám khư khư vào nghĩa mặt chữ (giải thích mỗi từ chỉ theo nghĩa hẹp thôi) lại là một chuyện khác. Trong khi những người theo chủ nghĩa cơ yếu đọc nhiều bản văn theo sát nghĩa mặt chữ, thì người Công Giáo nhận ra một ý nghĩa sâu hơn trong Thánh Kinh có thể vượt quá ý nghĩa của mặt chữ. Gần đây, điều này được gọi là sensus plenior (“nghĩa đầy đủ hơn”). Theo truyền thống, Giáo Hội Công Giáo vẫn cởi mở đón nhận cái được gọi là “ý nghĩa thiêng liêng” của Sách Thánh, nhiều lúc ý nghĩa này được coi ngang bằng với ý nghĩa đầy đủ hơn (sensus plenior). Một lần nữa, Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo tổng kết truyền thống Công Giáo. Nó lưu ý đến cách mà truyền thống phân chia sự giải thích ý nghĩa thiêng liêng đầy đủ hơn của Thánh Kinh thành ba loại: chú giải ngụ ngôn, chú giải luân lý, và chú giải bí nhiệm (số 117).
Ý nghĩa ngụ ngôn nhìn nhận rằng Thánh Kinh đôi khi đưa ra những “typologies” (mẫu tiêu biểu) hay những ngụ ngôn mở rộng trong đó có ý nghĩa tương ứng song đôi giữa một hình ảnh được dùng và ý nghĩa sâu hơn của nó. Như vậy, một hình ảnh Cựu Ước như cuộc Xuất Hành khỏi Ai Cập có thể tượng trưng cho Phép Rửa của Kitô giáo (cf. 1Cr 10,2), hay những hình ảnh xem ra thông thường như máu và nước có thể mang ý nghĩa bí tích Thánh Thể và Phép Rửa (cf. Ga 19,34). Ý nghĩa luân lý qui chiếu đến khả năng chung chung của nhiều Sách Thánh trong việc đưa ra những hướng dẫn luân lý (cf. Bài Giảng Trên Núi, Mt 5-7). Cuối cùng, ý nghĩa bí nhiệm (Hy ngữ: anagõ, “hướng dẫn”) qui chiếu đến sự nhận hiểu sâu xa hơn mà tất cả các Sách Thánh nhằm hướng dẫn chúng ta tới Vương Quốc của Thiên Chúa, và do đó chúng có giá trị hướng dẫn khi chúng ta đang trên hành trình tiến về “Giê-ru-sa-lem trên trời” (Kh 21,1-22,5).
Mỗi ý nghĩa sâu hơn này xuất phát từ – và đặt cơ sở trên – ý nghĩa mặt chữ. Chúng không thể tương phản với ý nghĩa mặt chữ của bản văn, nhưng chúng cũng không bị giới hạn trong chỉ ý nghĩa mặt chữ. Đôi khi các ý nghĩa cũng chồng chất lên nhau. Trong lịch sử, các giáo phụ thuở ban đầu của Giáo Hội đã sử dụng những phương pháp chú giải này một cách rất tự do. Sau đó, nhất là vào thời Trung Cổ, một số phương pháp tiếp cận này đã dẫn tới những sự chú giải kỳ quái quá quắt. Giáo Hội cảnh giác rằng luôn luôn có nguy hiểm trong việc tự cho phép mình vượt quá nghĩa mặt chữ (xem Chú Giải Trong Đời Sống Giáo Hội, III). Tuy nhiên, sự cho phép một tình trạng đa nghĩa sẽ bảo quản giá trị vĩnh hằng của Lời Thiên Chúa và khả năng áp dụng Lời ấy cho nhiều thế hệ khác nhau.
Sẽ là chưa đầy đủ ở đây nếu không nhấn mạnh rằng phương pháp tiếp cận của Công Giáo không giả định rằng mọi sự chú giải đều có giá trị ngang bằng nhau. Nhà chú giải nào cũng có thể vô tình hay hữu ý đọc thấy trong một bản văn một điều gì đó không hề có ở đấy. Điều này gọi là “eisegesis” (chú giải diễn cách, tức thêm ý của mình vào). Nó đối ngược với “exegesis” – tức công việc chú giải từ Thánh Kinh. Trong khi các tiềm năng của ý sâu xa hơn có thể không bao giờ được khai thác đầy đủ, thì các nhà chú giải không được phép tùy tiện tưởng tượng bất cứ ý nghĩa nào vượt quá ý nghĩa mặt chữ mà họ muốn. Không những các từ ngữ vốn có vành đai ý nghĩa của chúng, mà Giáo Hội còn đảm nhận trách nhiệm cuối cùng trong việc định ranh giới những chú giải tưởng tượng không nhất quán với giáo huấn của Giáo Hội.
(4) Người Công Giáo cũng nhìn nhận tính qui điển của Thánh Kinh. Thật vậy, Qui điển Công Giáo được xác định với 46 Sách Cựu Ước và 27 Sách Tân Ước. (Vì một lý do lịch sử, qui điển Tin Lành gồm ít hơn: chỉ có 39 Sách Cựu Ước).[6] Tuy nhiên, không giống như những người theo chủ nghĩa cơ yếu, người Công Giáo nhấn mạnh rằng nguồn gốc của qui điển thuộc về một quyết định chính thức của Giáo Hội sơ khai khi Giáo Hội sơ khai tuyên bố những Sách nào thuộc qui điển – tức những Sách được linh hứng, và những sách nào bị loại ra khỏi danh mục này. Theo một nghĩa nào đó, tiến trình này có tính hai chiều. Một chiều là các Sách Thánh giúp hình thành cộng đoàn Giáo Hội, còn chiều kia là Giáo Hội – dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần – đưa ra quyết định chung cuộc để xác định Sách nào thuộc về qui điển chính thức. Một ai đó phải tổ chức và tuyên bố những giới hạn của qui điển; qui điển đã không xuất hiện một cách độc lập đối với cộng đoàn Kitô hữu, ý chừng như chỉ bởi sự chuẩn nhận thần linh mà thôi. Một số bản văn Tân Ước (chẳng hạn các Thư Phaolô) đã lưu hành theo dạng được sưu tập nơi các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên trước khi Giáo Hội tuyên bố chính thức là các bản văn qui điển. Trong trường hợp của các bản văn Cựu Ước – những bản văn mà các Kitô hữu đầu tiên nhìn nhận trước hết là các bản văn thánh – thì qui điển của chúng có lẽ đã tồn tại vào khoảng năm 90 sau Công Nguyên. Đối với Tân Ước, tiến trình thiết định qui điển hầu chắc đã hoàn tất vào khoảng thời của Thánh Athanasiô (năm 367), nhưng tiến trình này vốn đã bắt đầu từ khoảng năm 90. Điều quan trọng nhất là cần ghi nhận rằng các Sách Thánh đã không phát triển một cách hoàn toàn độc lập đối với cộng đoàn Kitô hữu nhưng là cùng phát triển với cộng đoàn ấy.
(5) Giáo Hội Công Giáo mạnh mẽ chấp nhận giáo thuyết về sự linh hứng nơi các Sách Thánh, nhưng Giáo Hội không bám chặt vào bất cứ giả thuyết nào về sự linh hứng. Đã có nhiều cố gắng xuyên qua suốt giòng lịch sử thần học nhằm hình thành một giáo thuyết giải thích cách mà sự linh hứng làm việc. Phương pháp tiếp cận của Công Giáo không còn chấp nhận một giả thuyết giải thích sự linh hứng theo kiểu ‘đọc cho chép’, song đồng thời cách tiếp cận của Công Giáo khẳng định vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc linh hứng cho tác giả nhân loại viết ra Lời Thiên Chúa để truyền đạt một cách trung thành thánh ý của Chúa. Thay vì dựa vào một giả thuyết chuyên biệt nào đó, Giáo Hội Công Giáo đề ra ba nguyên tắc chỉ dẫn chú giải để diễn dịch các Sách Thánh sao cho phù hợp với Thánh Thần là Đấng linh hứng Sách Thánh. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo tổng hợp như sau:
Hiệu quả của ba nguyên tắc này là mở rộng bối cảnh của việc chú giải. Nó bao gồm các văn mạch của qui điển xét như một tổng thể và bao gồm các giáo huấn của Giáo Hội xuyên qua các thời đại. Từ bối cảnh ở đây thật rất quan trọng. Theo nhãn quan Công Giáo, không được đọc các Sách Thánh bên ngoài bối cảnh rộng lớn hơn của Truyền Thống Giáo Hội và toàn bộ Thánh Kinh qui điển. Cha Raymond E. Brown, linh mục Xuân Bích và là một học giả Thánh Kinh lừng danh đã quá cố, vốn thường nói với các thính giả của ngài: “Một bản văn là Thánh Kinh chỉ khi nó nằm trong Thánh Kinh.” Nói cách khác, việc diễn dịch các bản văn bằng cách xem chúng đứng riêng rẽ một mình và tách rời khỏi bối cảnh toàn bộ Thánh Kinh có thể (và thường) dẫn tới chỗ diễn dịch sai lạc. Cẩn trọng giữ lấy nhãn giới của toàn bộ Thánh Kinh qui điển, trong khi đồng thời cố gắng hiểu ý nghĩa của từng bản văn riêng, việc đó đòi tính kỷ luật và đòi phải biết lưu ý tới lịch sử. Chúng ta hãy lấy ví dụ với loại văn chương tiên tri.
Chúng ta hãy nhìn thoáng qua 3 bản văn khác nhau từ Cựu Ước – đó là các Sách Isaia, Mika và Giôen. Hai trong ba bản văn này hoàn toàn giống nhau và dường như nói đến cùng một hình ảnh hòa bình, nhưng bản văn thứ ba rõ ràng đối nghịch lại hình ảnh ấy và – do đó – thay đổi sự chú giải:
Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia, / và phân xử cho muôn dân tộc; / Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, / rèn giáo mác nên liềm nên hái; / Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, / và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến. (Is 2,4).
Người sẽ đứng làm trọng tài giữa muôn nước, / và phân xử cho các dân hùng mạnh mãi tận xa; / Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, / rèn giáo mác nên liềm nên hái; / Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, / và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến… (Mk 4,3)
Hãy lấy cuốc lấy cày đúc thành gươm đao, / lấy hái lấy liềm rèn nên giáo mác; / Kẻ yếu nhược cũng nói: “Ta đây trang dũng sĩ!” (Ge 4,10)
Lấy ra khỏi bối cảnh, những lời ấy của Giôen trực tiếp đối nghịch với những lời của Isaia và Mika. Hai bản văn đầu có nguồn gốc ở thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên, thời gian của hai ngôn sứ lớn, Isaia và Mika. Hai bản văn ấy giống nhau về từ ngữ đến nỗi phần đông các học giả đều tin rằng bản văn này phụ thuộc vào bản văn kia, mặc dù không thể xác định rõ ai mượn của ai. Trong bối cảnh lịch sử của thời ấy, mỗi ngôn sứ đang đề cập đến sự đe dọa mà Assiri, nước láng giềng hùng hậu phía bắc, đang đè nặng trên quốc gia non trẻ Israel. Mỗi ngôn sứ đều nhận được Lời Thiên Chúa theo cách của mình và chuyển nó cho những người đương thời để thúc đẩy họ kiên trung tin tưởng vào Thiên Chúa. Các ngôn sứ chủ yếu rao giảng niềm trông cậy vào chỉ một mình Thiên Chúa chứ không vào bất cứ đòn phép thông thường nào. Sẽ tới ngày Thiên Chúa sẽ kết thúc chiến tranh và vãn hồi hòa bình và hòa điệu cho mọi dân tộc. Người ta không cần phải dựa vào những chiến lược chiến tranh nào để mưu tìm hòa bình và an ninh.
Sau đó một thời gian (khoảng sau cuộc lưu đày, có lẽ vào thế kỷ 6 trước Công Nguyên), Ngôn sứ Giôen đối diện với một hoàn cảnh hoàn toàn khác. Những lời của vị ngôn sứ này nằm trong một thị kiến về cuộc tính sổ sẽ xảy đến trên mọi dân tộc vào ngày chung thẩm, ngày mà Thiên Chúa hứa sẽ xếp đặt mọi sự đúng đắn. Qua vị tiên tri, Thiên Chúa kêu gọi họ vũ trang, nhưng với những mục đích phán xét “vào ngày đó”, tức ngày tính sổ công bằng của Thiên Chúa. Thị kiến hòa bình của Isaia và Mika đưa ra hai thế kỷ trước đó bị đảo lộn và được làm cho trở thành một lời kêu gọi chiến tranh, dẫu là cuộc chiến tranh trong đó Thiên Chúa sẽ là người chiến thắng và là người xét xử cuối cùng. Những bản văn này không nhằm đưa ra lời khuyên đối ngược nhau trong bất cứ hoàn cảnh nào. Thay vào đó, mỗi bản văn được áp dụng một cách chuyên biệt vào những tình huống nào đó mà Thiên Chúa nhắm đến bằng những lời tiên tri chuyên biệt trong những bối cảnh khác nhau. Nếu loại bỏ bối cảnh lịch sử và văn chương, sẽ không có cách nào hiểu chính xác các sứ điệp Thánh Kinh tỏ lộ ý định của Thiên Chúa như thế nào. Thật vậy, các ngôn sứ đưa ra những lời khuyên rất khác nhau. Đấy bởi vì Lời Thiên Chúa đến với các ngài trong những hoàn cảnh khác nhau. Những sứ điệp khác nhau, vì thế, không xâm hại đến chân lý của các Sách Thánh, nhưng trái lại đặt các Sách Thánh vào đúng bối cảnh của chúng cho các thế hệ tướng lai khám phá.
Dĩ nhiên, thách đố thực sự của việc chú giải là áp dụng các bản văn Thánh Kinh vào những hoàn cảnh hiện nay bằng những cách sao cho trung thành với bản văn. Những lời của Isaia và Mika xem ra kích cảm hơn đối với các Kitô hữu chúng ta hôm nay, nhưng những lời của Giôen có mặt trong qui điển trong tư cách là một chứng nhân cho một nhãn giới khác trong những trường hợp khác.
Nói tóm, trong khi người Công Giáo và những người theo chủ nghĩa cơ yếu có một số yếu tố chung, họ cũng khác biệt nhau trong phần lớn các phương pháp chú giải và các vấn đề về Thánh Kinh. Tôi xin tổng hợp sự tương phản bằng biểu đồ sau đây:
Nhiều trong số những khác biệt kể trên bộc lộ nơi những chú giải chuyên biệt, song ngay cả một số nguyên tắc chung cũng bất đồng nhau. Đáng kể trước hết là sự chấp nhận của Công Giáo đối với việc nghiên cứu Thánh Kinh có tính phê bình hiện đại và sự tôn trọng đối với bối cảnh văn chương và lịch sử của mỗi bản văn Thánh Kinh. Giáo Hội ít khi xác định ý nghĩa của các bản văn song chỉ đưa ra những hướng dẫn chung để đọc các Sách Thánh trong bối cảnh rộng lớn hơn của đức tin Công Giáo.
=================================
[1] tức Thông Điệp Providentissimus Deus, 1893
[2] xem Dei Verbum, Hiến Chế về Mạc Khải, số 11 – được trích dẫn trong Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, số 107.
[3] Report on Sacred Scripture, Origins 29:17, 7 tháng 10, 1999; 266-67
[4] Dei Verbum, Hiến Chế về Mạc Khải, số 21.
[5] xem Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, số 126
[6] xem Witherup, The Bible Companion, 12-15
[7] Sách GLCGHCG, 112-114
Sau khi đã lược qua các phương pháp tiếp cận Thánh Kinh theo chủ nghĩa cơ yếu và theo Công Giáo, chúng ta đã có khá đủ điều kiện để nhận định các điểm mạnh và điểm yếu của chủ nghĩa cơ yếu. Như tôi đã cảnh báo trong lời dẫn nhập, chúng ta nên cố gắng đưa ra một phán đoán vừa công bằng vừa khách quan hết sức có thể. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách trước hết phân tích tại sao trong thực tế chủ nghĩa cơ yếu đang hấp dẫn nhiều người hôm nay đến thế.
Chúng ta không có sẵn những con số chính xác để xác định mức ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh. Các nhà xã hội học cho thấy rằng chủ nghĩa này đang trên đà lụi tàn. Thật thú vị, vào tháng 10 năm 2000, cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter công khai tuyên bố việc ông rời bỏ phái Báp-tít miền Nam, vì các giáo thuyết quá khắc nghiệt. Cách riêng, ông chỉ ra sự bất lực trong việc đi vào một cuộc đối thoại trong tinh thần kính trọng với những người bất đồng, những hạn chế của chủ nghĩa cơ yếu đối với vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội và trong xã hội, và việc chú giải Thánh Kinh quá theo sát mặt chữ. Hành động này của Jimmy Carter có tính biểu tượng cho cuộc đấu tranh đang diễn ra trong nội bộ phái Báp-tít miền Nam mấy năm trở lại đây giữa cánh cực đoan và cánh ôn hòa. Tuy nhiên, các cộng đoàn những người theo chủ nghĩa cơ yếu dường như vẫn đang nở rộ tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở Phi Châu và Nam Mỹ – và các cuộc thảo luận chính trị quan trọng ở Mỹ cũng cho thấy rằng những người cơ yếu vẫn còn giữ một ảnh hưởng đáng kể trong giới chính khách bảo thủ. Điều không thể phủ nhận, đó là chủ nghĩa cơ yếu có một sức hấp dẫn nào đó. Nhiều người, gồm cả người Công Giáo, trở nên ưa thích cách tiếp cận Thánh Kinh của chủ nghĩa cơ yếu vì nhiều lý do khác nhau, gồm cả những lý do tâm lý, xã hội và tôn giáo.
(1) Một nét hấp dẫn của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh, đó là chính bản thân Thánh Kinh. Sự ngưỡng mộ đối với Thánh Kinh của những người cơ yếu thật đáng thán phục. Nó cũng giống như sự hấp dẫn mà một số người ngoại giáo cổ thời cảm nhận khi họ nhìn thấy người Do thái ngưỡng mộ các Sách Thánh; họ gọi người Do Thái là “dân tộc của Quyển Sách”. Những người cơ yếu đọc Thánh Kinh hằng ngày, nhớ vanh vách nhiều đoạn văn, nghiên cứu khá kỹ, và chia sẻ với nhau suy nghĩ của mình về các bản văn ấy, sự kiện ấy có thể có sức lôi cuốn đối với những ai cảm thấy rằng cộng đoàn đức tin của mình không lưu tâm nuôi dưỡng phương diện này của đức tin. Tôi được biết nhiều người Công Giáo đã tham gia các nhóm học hỏi Thánh Kinh của những người theo chủ nghĩa cơ yếu bởi vì đó là khả năng chọn lựa duy nhất của họ.
Mặc dù nhiều người Công Giáo khao khát hiểu biết Thánh Kinh, việc học hỏi Thánh Kinh có qui củ không luôn luôn có sẵn đó cho họ. (Thế nhưng, trong khi đó, nhiều vị mục tử lại nản lòng khi mở những lớp Thánh Kinh cho người lớn và nhận ra chẳng mấy người Công Giáo chịu tham dự!) Nhiều giáo xứ Công Giáo, cách riêng, chẳng tạo mấy cơ hội cho các tín hữu học hỏi Thánh Kinh một cách bài bản. Không giống như đa số các Giáo Hội Tin Lành, Giáo Hội Công Giáo không thành công trong việc giúp cho các tín hữu của mình có thói quen đọc và cầu nguyện bằng Thánh Kinh hằng ngày. Đành rằng người Công Giáo cũng được khuyến khích đọc và cầu nguyện bằng Thánh Kinh, nhất là qua việc chuẩn bị trước các bài đọc trong Thánh Lễ. Nhưng thực tế là việc sử dụng Thánh Kinh chưa trở thành chất sống hằng ngày đối với nhiều người Công Giáo.
(2) Một hấp dẫn khác nữa của chủ nghĩa cơ yếu, đó là cách tiếp cận đức tin của những người theo chủ nghĩa cơ yếu cho thấy một khía cạnh cá nhân của đức tin – khía cạnh này vốn thường thiếu bên Công Giáo. Người ta có thể cảm nhận Chúa Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Độ cách riêng của cá nhân họ. Tình yêu của Thiên Chúa đối với cá nhân người ta mãnh liệt đến nỗi Thiên Chúa sai Con Một của Ngài đến làm Đấng Cứu Độ cho người ấy, ý tưởng này có sức an ủi lớn lao trong một thế giới mà các cá nhân có thể cảm thấy bị bỏ rơi và hụt hẫng. Ý niệm rằng Đức Giêsu Kitô đã chết cho tôi là một ý niệm rất thâm sâu. Nó có sức xoa dịu và củng cố nghị lực. Thế nhưng đức tin Công Giáo, cách riêng, nhấn mạnh đến chiều kích cộng đoàn của ơn cứu độ đến mức khía cạnh cá nhân có thể bị bỏ mất. Đòi hỏi phải có một quyết định cá nhân trong việc chọn lựa Đức Giêsu, đó có thể là một thách đố đầy hấp dẫn đối với một người đang mong ước đào sâu đức tin của mình.
Hơn nữa, từ một góc nhìn xã hội học, sự nhấn mạnh của những người theo chủ nghĩa cơ yếu đối với đức tin của cá nhân rất ăn khớp với trào lưu cá nhân chủ nghĩa của người Mỹ. Nó không chỉ nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân, song nó còn trao cho cá nhân một cảm thức rõ hơn về tự do và tự trị. Khi cá nhân người ta quyết định theo Đức Giêsu, quyết định đón nhận sứ điệp của Tin Mừng, và quyết định sống một đời sống đạo đức trung thực, họ có được một cảm thức về mục đích và ý nghĩa trọn vẹn của cuộc đời.
Chiều kích cá nhân này có thể gây hoang mang cho một số người Công Giáo. Đôi khi, có những người Công Giáo hỏi tôi rằng làm sao trả lời những câu hỏi của những người theo chủ nghĩa cơ yếu như: “Bạn có tin Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Độ của riêng bạn không?” Câu trả lời của tôi rất đơn giản. Dĩ nhiên chúng ta, những người Công Giáo, có thể trả lời câu hỏi ấy một cách khẳng định. Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Độ của cá nhân mỗi người chúng ta đấy chứ. Nhưng câu tuyên bố có tính định thức này không phải là cứu cánh nơi tự thân nó. Chúng ta đi xa hơn nữa để thêm rằng ơn cứu độ được nhắm đến cho một cộng đoàn chứ không phải chỉ cho những cá nhân riêng rẽ mà thôi. Đức Giêsu đã qui tụ một nhóm môn đệ xung quanh Người và dạy họ cầu nguyện với nhau. Người không chỉ gọi họ một cách cá nhân. Họ trở thành hạt nhân của một cộng đoàn mới, một cộng đoàn các môn đệ. Chúng ta tin rằng Giáo Hội là một phần thiết yếu của đức tin mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đón nhận, nhưng đồng thời chúng ta không phủ nhận sự thách đố cá nhân gắn liền với đức tin ấy. Chúng ta cố gắng đặt nó vào đúng bối cảnh cộng đoàn của nó.
Một khía cạnh khác nữa trong chiều kích cá nhân này của đức tin Công Giáo thường có thể dễ dàng bị bỏ qua, đó là việc chúng ta cử hành Bí Tích Thêm Sức. Trong những thập niên theo sau Vatican II, Bí Tích Thêm Sức đã trở thành chủ đề của nhiều tranh luận. Gần đây hơn, người ta nhấn mạnh nhu cầu đảm nhận đức tin cá nhân tại một lúc nào đó trong cuộc sống. Phép Rửa hồi còn bé không làm cho người ta trở thành một thành viên tốt của Giáo Hội nếu sự dấn thân ban đầu ấy không được củng cố, nuôi dưỡng và đúc nặn bởi một cam kết cá nhân của người trưởng thành. Khi chúng ta, trong tư cách là những con người mới lớn lên, được đóng ấn đức tin trong Chúa Thánh Thần, chúng ta được yêu cầu đảm nhận trách nhiệm đối với đức tin của mình. Chúa Giêsu đang kêu gọi chúng ta, và chúng ta được yêu cầu đáp trả tiếng gọi của Người. Có một chiều kích cá nhân mạnh mẽ trong đức tin Công Giáo, nhưng đôi khi chiều kích này bị phủ lấp mất bởi những yếu tố khác.
(3) Nét hấp dẫn thứ ba nơi chủ nghĩa cơ yếu là sự nhấn mạnh việc kinh nghiệm Thiên Chúa cách trực tiếp nhờ đức tin. Điều này càng hấp dẫn trong một xã hội mà chủ nghĩa cá nhân và sự tự do được đề cao. Theo một nghĩa nào đó, những người theo chủ nghĩa cơ yếu phát triển một tôn giáo có tính rất riêng tư. Việc nghĩ rằng chúng ta không cần bất cứ một thẩm quyền bên ngoài nào để đón nhận thánh ý Thiên Chúa có sức “tăng lực” lớn lao đối với các cá nhân. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu phát triển một loại tôn giáo chỉ có “Thiên-Chúa-và-tôi” hay “Chúa-Giêsu-và-tôi”. Chỉ cần tôi mở Thánh Kinh ra, Thiên Chúa sẽ nói trực tiếp với tôi một cách rõ ràng sáng tỏ không thể lầm lẫn gì được. Con đường cá nhân chủ nghĩa này cũng hỗ trợ cho khuynh hướng ‘chống cơ chế’ của thời nay. Cần gì đến một Giáo Hội hay các linh mục hay những chuyên viên bên ngoài nếu Lời Thiên Chúa có sẵn đó cho ta nghe tùy thích? Việc học hỏi Thánh Kinh theo nhóm cũng có thể đáp ứng cho viễn tượng này. Cách tiếp cận của chủ nghĩa cơ yếu nhấn mạnh rằng các Sách Thánh là nhằm cho tôi. Ý nghĩa của một bản văn đối với tôi tại thời điểm cụ thể này trong đời tôi là tiêu chuẩn tối thượng để nhận ra thánh ý Thiên Chúa. Thật hấp dẫn biết bao việc có một đường dẫn mình trực tiếp tới thánh ý Thiên Chúa để nhận ra Ngài muốn gì cho đời mình!
(4) Đối với nhiều người, một sức hấp dẫn lớn của chủ nghĩa cơ yếu trước hết thuộc lãnh vực tâm lý. Nó cung cấp sự an toàn và sự chắc chắn trong một thế giới ngày càng bất an và bất ổn. Nhìn từ bên trong, chủ nghĩa cơ yếu là một chiếc túi chứa những câu hỏi và những câu trả lời. Nó có thể cung ứng sự dễ chịu về tâm lý cho những ai không thể hay không sẵn sàng đương đầu với những rắc rối, những hàm hồ của cuộc sống và những sự chọn lựa phải được thực hiện trong nhịp sống hằng ngày. Khi người ta đón nhận cách tiếp cận của chủ nghĩa cơ yếu, người ta nhận được một thế giới quan đại loại như: “Đừng lo, Thiên Chúa sẽ lo liệu. Mọi sự có vẻ đang tuột dốc, nhất là về luân lý, nhưng Thiên Chúa sẽ điều chỉnh tất cả.” Không ai có thể phủ nhận bước biến chuyển nhanh chóng của đời sống hiện đại và hệ quả của nó đối với xã hội tiêu thụ của chúng ta. Cuộc sống thật náo nhiệt và lộn xộn, và sự thay đổi đang diễn ra với một tốc độ ngày càng tăng. Chỉ trong lãnh vực y khoa thôi, con số các câu hỏi về vấn đề đạo đức đang nổi lên thật choáng ngợp. Những vấn đề về kỹ thuật di truyền, về sinh sản vô tính, về sự quản lý cả việc thụ thai lẫn việc chấm dứt sự sống, về săn sóc sức khỏe, vv… đang nổi lên với nhịp độ xem chừng không thể bắt kịp. Ở đâu người ta sẽ tìm được cảm giác yên ổn và sự hướng dẫn bên trong trong một thế giới lao tới vun vút từng ngày? Ở đâu người ta sẽ tìm thấy một la bàn vững chắc để hướng dẫn họ đi qua đại dương đầy bão tố quay cuồng của cuộc sống hiện đại?
Khi người ta đề cập đến tất cả các lãnh vực mà trong đó những vấn đề đạo đức nổi lên (đời sống gia đình, hôn nhân và li dị, công việc làm ăn, việc sử dụng internet, năng lượng hạt nhân, chạy đua vũ trang, án tử hình, sự lan tràn của những căn bệnh truyền nhiễm, vv…), thì người ta cảm thấy thật vô cùng khủng khiếp! Vì thế, một hệ thống mà trong đó có một số nguyên tắc căn bản thiết chế tất cả các quyết định – chẳng hạn quyết định về các vấn đề sống và chết – sẽ cung cấp một giải pháp đầy hấp dẫn giữa vô số khả năng chọn lựa rối rắm trong thế giới hiện đại. Chủ nghĩa cơ yếu cũng hấp dẫn bởi vì nó tránh được tính phức tạp và hàm hồ của nhiều câu hỏi thời đại. Một đời sống được sống theo những sự chọn lựa giữa chỉ hai đường (hoặc đường này hoặc đường kia) thì dễ chịu hơn một đời sống đòi người ta phải nắm hiểu hết tính rắc rối của một vấn đề để có thể đưa ra một sự chọn lựa đúng đắn. Những vùng tối là những bãi lầy nguy hiểm cần phải tránh. Chủ nghĩa cơ yếu giúp người ta tránh được sự hàm hồ. Nó vạch ra những đường ranh và những đích nhắm rõ rệt – và vì thế nó giúp người ta đương đầu được với đời sống hiện đại.
(5) Cũng có một lý do xã hội học nữa liên quan tới sức hấp dẫn của chủ nghĩa cơ yếu. Các nhà xã hội học chỉ ra hiện tượng những nhóm mạnh và những nhóm yếu trong xã hội. Có lẽ một lý do cho sự lôi cuốn mạnh mẽ của chủ nghĩa cơ yếu trong một thế giới đang thay đổi đầy phức tạp, đó là chủ nghĩa này biểu lộ những đặc tính của một nhóm “mạnh”. Một học giả đã tổng hợp được 6 đặc tính: (a) tính dấn thân triệt để; (b) tính kỷ luật; (c) tính nhiệt thành sứ mạng; (d) tính tuyệt đối; (e) tính tương hợp với một ý thức hệ; và (f) tính cuồng tín.[1] Những đặc tính này của một nhóm mạnh đối chọi trực tiếp với những nhóm “yếu” là những nhóm bộc lộ các đặc tính: tương đối, đa dạng, đối thoại, bất quyết, cá nhân chủ nghĩa, và thiếu lòng khát khao phô bày các ý tưởng của mình cho người khác.
Trong một xã hội vốn nhấn mạnh những đặc tính của các nhóm yếu, chủ nghĩa cơ yếu hẳn nhiên là đầy sức hấp dẫn. Lập trường của nó chủ yếu có tính đối nghịch văn hóa, một điều củng cố cả căn tính lẫn khuynh hướng muốn tách biệt khỏi trào lưu chính trong xã hội. Thật đáng ghi nhận rằng hiện tượng có tính xã hội học này trong đó những người nhiệt thành tôn giáo tự tách mình ra khỏi giòng văn hóa chính vẫn xảy ra suốt giòng lịch sử tôn giáo Do thái-Kitô giáo. Ngay cả trong thời của Đức Giêsu, một số người Do thái cũng bộc lộ những khuynh hướng như thế (chẳng hạn, những người Eùt-sê-nê tự ẩn mình ở Biển Chết để bảo tồn nhận thức của họ về đức tin Do thái giáo đích thực) – những người ấy có thể được xem như, ít nhất một phần, là những người có chiều hướng chủ nghĩa cơ yếu.
(6) Có một nét hấp dẫn khác nữa, đó là cảm thức cộng đoàn tồn tại giữa nhiều nhóm người theo chủ nghĩa cơ yếu. So sánh với nhiều Giáo Hội Tin Lành kỳ cựu và các giáo xứ Công Giáo, những nhóm cơ yếu rất nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng đỡ nhau trong cộng đoàn. Họ nhiệt tâm phát triển cảm thức thuộc về một nhóm người biết quan tâm săn sóc cho nhau theo kiểu mẫu của Giáo Hội sơ khai như được mô tả một cách lý tưởng trong Công Vụ Tông Đồ (chẳng hạn, Cv 2,43-47). Sự hấp dẫn này không đối ngược với việc nhấn mạnh chiều kích cá nhân của đức tin mà trái lại còn bổ sung cho chiều kích ấy.
Trong một số trường hợp tôi đã đích thân chứng kiến sự nâng đỡ mãnh liệt mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu có thể cung cấp. Có một lần, tôi đã gặp thấy một cộng đoàn những người cơ yếu hết sức nhiệt tình giúp đỡ một nữ thành viên và gia đình của cô ta khi khám phá ra rằng cô ta bị bệnh ung thư ở giai đoạn cuối. Sự nâng đỡ lớn lao mà họ cung cấp cho cô ta, cả vật chất lẫn tinh thần, là một mẫu gương thực sự. Trong một trường hợp khác, tại một cộng đoàn nọ trên một hòn đảo heo hút ngoài khơi Alaska, vị mục sư thuộc phái Cộng Đoàn Của Thiên Chúa và cộng đoàn bé nhỏ của ông ta đã hết sức sốt sắng tiếp đón tất cả những ngư phủ tình cờ ghé qua. Vị mục sư và gia đình ông ta, trong hoàn cảnh nhiều khó khăn của gia đình mình, đã cung cấp thực phẩm, chỗ ở, những sự hướng dẫn cần thiết, và bất cứ điều gì mà các ngư phủ cần. Trên đảo còn có những cư dân khác cũng là Kitô hữu, nhưng chỉ có vị mục sư này bày tỏ lòng hiếu khách như vậy.
Tình thân hữu là một giá trị quan trọng nơi những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Trong một thế giới mà nhiều người cảm thấy cô đơn và bị phũ phàng, quả thật là thú vị việc được thuộc về một cộng đoàn biết tích cực quan tâm đến các cá nhân thành viên. Nói vậy không có nghĩa rằng các cộng đoàn Giáo Hội khác không hiếu khách và không có tình thân hữu, nhưng đặc điểm này nổi bật hơn nơi cộng đoàn của những người theo chủ nghĩa cơ yếu.
Sáu yếu tố kể trên giúp giải thích, ít nhất một phần, lý do tại sao một số người cảm thấy chủ nghĩa cơ yếu có sức lôi cuốn mình. Vậy một người Công Giáo sẽ đánh giá hệ thống ấy như thế nào?
Có một số khía cạnh tích cực không phải đến từ chính chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh nhưng là xuất phát từ những con người gắn bó với chủ nghĩa đó.
(1) Thái độ kính trọng đối với Thánh Kinh hiểu là Lời Thiên Chúa, và thái độ sẵn sàng gán đời sống Kitô hữu của mình vào Thánh Kinh, đó là điều thật đáng thán phục nơi những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Các Kitô hữu khác, trong đó có người Công Giáo, không tiếp cận Thánh Kinh theo cùng một cách thức như họ, song sự kiện ấy không hề phủ nhận những ý hướng tốt lành của họ. Họ cố gắng nghiêm túc trân trọng Thánh Kinh và đưa Thánh Kinh vào thực hành trong đời sống. Đó không phải là một cuốn sách lịch sử đối với họ, cũng không phải chỉ là những lời nào đó xa xưa trong quá khứ. Họ tìm gặp Lời Thiên Chúa như Lời sống động có thể dẫn dắt cuộc sống của mình.
(2) Một khía cạnh tích cực thứ hai là chiều kích cá nhân của đức tin vốn đặc điểm hóa những cộng đoàn theo chủ nghĩa cơ yếu. Họ nghiêm túc đáp trả những thách đố của Tin Mừng và làm cho đức tin của họ trở thành một quyết định cá nhân. Họ bảo vệ sự dấn thân này và nỗ lực đào sâu sự dấn thân ấy một cách thường xuyên, nhất là qua việc học hỏi Thánh Kinh. Lòng nhiệt thành đối với Tin Mừng gắn liền với quyết định cá nhân này cũng có thể rất đáng khâm phục. Đành rằng người ta có thể chất vấn phải chăng là thực sự khôn ngoan việc bước lên một chiếc bục ở ngã tư đường phố và lớn tiếng rao giảng một sứ điệp tôn giáo trong khi người qua kẻ lại vẫn hững hờ đi qua, nhưng người ta phải thán phục chứng từ đức tin cá nhân mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu tuyên xưng.
(3) Những người cơ yếu cũng tích cực dấn thân thăng tiến đời sống gia đình tốt đẹp, lành mạnh. Cùng với nhiều người khác trong xã hội, những người theo chủ nghĩa cơ yếu tin rằng nền văn hóa Mỹ hiện đại đang xâu xé gia đình truyền thống. Li dị và tái hôn đang lan tràn. Sự bất lực trong việc dấn thân vĩnh viễn bất cứ loại nào đang phá hoại sự ổn định của đời sống hôn nhân và gia đình. Thật vậy, chính định nghĩa của một mối liên hệ hôn nhân cũng đang bị tấn công. Đời sống gia đình thường quá bận rộn, với cả người cha và người mẹ phải đi làm việc kiếm sống, đến nỗi con cái đôi khi bị bỏ bê. Giống như giáo phái Mormon và một số nhóm khác, những người theo chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thăng tiến đời sống gia đình. Họ quan tâm xếp đặt để dành thì giờ cho sinh hoạt gia đình. Một điều đáng tiếc là đi kèm với khía cạnh này, họ lại nhấn mạnh đến việc tổ chức vai trò của đàn ông và phụ nữ trong gia đình rập theo khuôn truyền thống cứng nhắc. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu ủng hộ một số bản văn Tân Ước thiên về việc giới hạn các vai trò của phụ nữ trong xã hội (chẳng hạn Ep 5,22-33). Họ áp dụng các vai trò của người vợ và người chồng một cách máy móc, không tán thành việc người phụ nữ đi làm việc ngoài gia đình. Việc thăng tiến các giá trị hôn nhân và gia đình là tốt, nhưng việc qui chế hóa một số mẫu thức xã hội trong Thánh Kinh, tách ra khỏi bối cảnh lịch sử của chúng để làm chuẩn mực cho mọi thời, đó là một thực hành mà những người không theo chủ nghĩa cơ yếu sẽ tránh.
(4) Sự nhấn mạnh của chủ nghĩa cơ yếu trên trách nhiệm luân lý cá nhân cũng đáng thán phục. Trong một thời đại vốn thường có xu hướng đùn đẩy trách nhiệm cho người khác, hoặc đùn đẩy cho xã hội, thì những người theo chủ nghĩa cơ yếu kêu gọi người ta nhận trách nhiệm của cá nhân mình. Việc bảo vệ một chuẩn mực luân lý cá nhân sẽ thúc đẩy người ta sống đàng hoàng, nề nếp – điều này có sức thách đố những kẻ khác vượt qua não trạng trục lợi cách ích kỷ.
(5) Những người theo chủ nghĩa cơ yếu nhấn mạnh đến các điểm cơ yếu. Điều này có một khía cạnh tích cực. Con người thường có khuynh hướng thích những bảng giá trị ngắn gọn súc tích có thể phát triển căn tính và đặc nét của mình. Dù không hoàn toàn có lý, song thiên hướng tập chú vào một số điểm cơ yếu (là những điểm không thể nhượng bộ trong đời sống) là một thiên hướng tốt. Thật vậy, Giáo Hội đã làm thế qua bao thế kỷ, với những định thức tín điều trong các thời đại khác nhau, những lời thề hứa được công thức hóa, những tổng hợp các niềm tin trong sách giáo lý, vv… Công Giáo cũng chấp nhận một số điều cơ yếu của đức tin không thể tranh luận. Điều quan trọng là làm sao để giữ vững một số điều cơ yếu mà vẫn không trở thành những con người cơ yếu cực đoan.
(6) Cảm thức cộng đoàn mạnh mẽ nơi những người theo chủ nghĩa cơ yếu cũng là một điểm mạnh. Việc họ lý tưởng hóa cộng đoàn Kitô hữu trong Tân Ước có thể hơi quá trớn, song họ thực sự đúng đắn khi nhấn mạnh nhu cầu phải có những cộng đoàn đức tin vững chắc và đầy tính tương trợ lẫn nhau. Không chỉ những người theo chủ nghĩa cơ yếu mới cảm nhận giá trị này, nhưng họ đặc biệt ưu tiên cho giá trị này. Nó cũng giúp cung ứng một sự quân bình nào đó cho chiều kích đức tin nặng tính cá nhân của họ.
Bất chấp một số chiều kích tích cực trong cách mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh sống đời sống của họ, từ một nhãn giới Công Giáo, ta sẽ nhận thấy những điểm yếu quan trọng nơi chủ nghĩa này. Chủ nghĩa này, xét thiết yếu, không tương hợp với đức tin Công Giáo. Thật vậy, trong một tài liệu quan trọng ban hành để kỷ niệm 100 năm thông điệp của Giáo Hoàng Lêô XIII về Thánh Kinh, Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh đã giải thích rõ ràng những mối nguy hiểm của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh. Tài liệu nói trên của Ủy Ban, trong khi đánh giá rất tích cực nhiều phương pháp tiếp cận hiện đại đối với Thánh Kinh, thì trái lại, đã đưa ra sự đánh giá rất tiêu cực về chủ nghĩa cơ yếu:
Cách tiếp cận của chủ nghĩa cơ yếu thật rất nguy hiểm, bởi vì nó hấp dẫn đối với những người muốn tìm nơi Thánh Kinh những câu trả lời có sẵn cho các vấn đề của cuộc sống. Nó có thể đánh lừa những người như vậy, cung cấp cho họ những giải thích có vẻ đạo hạnh nhưng viển vông không thực tế, thay vì nói với họ rằng Thánh Kinh không chứa một câu trả lời trực tiếp cho riêng từng vấn đề . Chủ nghĩa cơ yếu trong thực tế dẫn người ta tới một loại tự tử về mặt tri thức. Nó tiêm vào cuộc sống một sự chắc chắn giả tạo, vì nó vô tình lẫn lộn bản chất thần linh của sứ điệp Thánh Kinh với những gì thực ra chỉ là những giới hạn của con người.[2]
Ủy Ban chỉ ra tính đơn giản hóa quá mức của chủ nghĩa cơ yếu trong việc tiếp cận cuộc sống và việc áp dụng Thánh Kinh vào cuộc sống. Hồng Y Joseph Ratzinger, tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, cũng nhận định về khuyết điểm này nơi chủ nghĩa cơ yếu tại một cuộc hội nghị về nghiên cứu Thánh Kinh hồi cuối thập niên 1980:
Chủ nghĩa cơ yếu là một mối nguy hiểm. Điều đó thật rõ ràng. Nó hoàn toàn không tương hợp với đức tin Công Giáo, vì đức tin Công Giáo giả định rằng tôi đọc Thánh Kinh trong bối cảnh của cộng đoàn đức tin và của cộng đoàn bao gồm tất cả những thế kỷ của đức tin. Như vậy, tôi đọc Thánh Kinh với Giáo Hội và với đức tin của mọi thời. Và tôi đọc Thánh Kinh một cách có suy lý, một cách có lý. Vì thế tôi phải cố tránh chủ nghĩa cơ yếu.[3]
Đọc Thánh Kinh một cách quá đơn giản hóa và tách bản văn Thánh Kinh ra khỏi bối cảnh của nó, vấn đề kép này là điểm yếu chính yếu của chủ nghĩa cơ yếu. Khuynh hướng tự nhiên của con người muốn có những câu trả lời đơn giản, nhưng đời sống hiện đại không luôn luôn chấp nhận những giải pháp đơn giản cho những vấn đề phức tạp bật lên ngày càng nhiều. Tính đối ứng song song giữa một vấn đề hiện đại và sự áp dụng Thánh Kinh vào vấn đề đó gãy đổ rất nhanh chóng. Đó là lý do tại sao không thể chấp nhận chủ nghĩa cơ yếu được. Nhưng những giới hạn của chủ nghĩa cơ yếu không chỉ có thế. Ngoài phương pháp tiếp cận Thánh Kinh có tính đơn giản hóa quá mức của chủ nghĩa cơ yếu, tôi thấy chủ nghĩa này còn có 8 điểm yếu sau đây:
(1) Điểm yếu rõ nhất, đó là chủ nghĩa cơ yếu thiếu một góc nhìn có tính lịch sử. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu có một góc nhìn rất chật hẹp đối với lịch sử con người. Thật vậy, Họ dường như phi lịch sử trong vấn đề các nguồn gốc Thánh Kinh. Thánh Kinh được nhìn như một tài liệu nguyên sơ được mạc khải qua chỉ một hành động đơn giản của Thiên Chúa và có hiệu lực cho mọi thời. Các bản văn của Thánh Kinh thường xuyên được chú giải ở ngoài bối cảnh và không quan tâm bao nhiêu đến nguồn gốc lịch sử của chúng. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu gặp khó khăn với các mâu thuẫn thực tế hay biểu kiến trong Thánh Kinh chỉ vì họ thiếu ý thức về lịch sử. Họ hoàn toàn không chấp nhận rằng đã có một sự phát triển trong nhãn giới, nhất là trong lãnh vực giáo huấn luân lý trong Thánh Kinh. Đa số các nguyên tắc được đọc như thể chúng được viết riêng cho thời hiện đại này. (Họ chấp nhận một số biệt lệ, chẳng hạn, luật về các đồ ăn thức uống trong Sách Lêvi). Nhãn quan “bây giờ” của họ che lấp mọi cảm thức về lịch sử.
(2) Chủ nghĩa cơ yếu cũng có một cái nhìn rất hạn hẹp về mạc khải. Vì họ nhìn Thánh Kinh như là phán quyết cuối cùng cho mọi vấn đề, nên không có chỗ cho sự phát triển của giáo thuyết qua thời gian hoặc cho việc cải cách giáo thuyết Kitô giáo trong lịch sử, như các Giáo Hội khác nhìn nhận. Ngay cả những tín điều căn bản được đón nhận bởi các Giáo Hội Kitô giáo kỳ cựu, như Kinh Tin Kính các Tông đồ hay Kinh Tin Kính của Công Đồng Nixê, đều không được những người theo chủ nghĩa cơ yếu cho là quan trọng. Chỉ Lời Thiên Chúa thôi, như được giải thích bởi các nhà chú giải theo chủ nghĩa này, mới là điều cốt yếu quan trọng.
(3) Một hạn chế nghiêm trọng khác, thật trớ trêu, lại là nhãn giới phản Thánh Kinh nơi chủ nghĩa cơ yếu. Chủ nghĩa cơ yếu nhắm cậy dựa vào chỉ một mình Thánh Kinh và vào sứ điệp rõ ràng hiển nhiên của Thánh Kinh để làm nền tảng cho mình. Nhưng thực tế thì trái lại. Chẳng hạn, chỉ cần lướt thoáng qua quyển The New Scofield Study Bible, ta có thể thấy nhiều ý kiến chứa nơi các cước chú thực ra là những định thức giáo thuyết bên ngoài Thánh Kinh và được gán ép cho Thánh Kinh. Đó là trường hợp của thuyết phân thời “dispensationalism” mà quyển Thánh Kinh này tuyên truyền. Giáo huấn về bảy “giai đoạn” của lịch sử cứu độ là một cấu trúc nhân tạo giữa nhiều lược đồ giáo thuyết khác trong lịch sử. Lý thuyết này chia lịch sử thế giới thành bảy giao ước hay bảy giai đoạn phân thời, mỗi giai đoạn dựa cơ sở trên một bản văn Thánh Kinh chuyên biệt, qua đó mạc khải của Thiên Chúa đã được trao ban cho loài người. Bảy giai đoạn đó là:
¨ Giai đoạn vô tội (St 1,28; Vườn Êđen)
¨ Giai đoạn của lương tâm và trách nhiệm luân lý (St 3,7; từ sự sa ngã của Ađam và Eva đến Nôe)
¨ Giai đoạn của cơ chế nhân lọai (St 8,15; từ Nôe tới giao ước với Abraham)
¨ Giai đoạn của Lời hứa (St 12,1; từ tổ phụ Abraham tới Môsê)
¨ Giai đoạn của Lề Luật (Xh 19,1; từ Môsê nhà trao luật tới Đức Giêsu Kitô)
¨ Giai đoạn Giáo Hội (Cv 2,1; từ cái chết và cuộc Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô cho tới hiện nay)
¨ Giai đoạn của Vương Quốc (Kh 20,4; bắt đầu khi Đức Kitô trở lại trong chiến thắng vinh quang)
Theo lý thuyết này, mỗi trong sáu giai đoạn phân thời ấy của nhân loại đều không sống trọn vẹn các kỳ vọng của Thiên Chúa. Mỗi thời, Thiên Chúa đặt loài người dưới một số kỳ vọng nào đó, nhưng con người thất bại trong việc đáp trả, rốt cục Thiên Chúa sẽ hành động trong giai đoạn cuối cùng với Vương Quốc được thiết lập bởi Đức Giêsu Kitô, Đấng sẽ dứt khoát đánh bại sự dữ và thiết lập triều đại hòa bình một ngàn năm. Lược đồ ấy là một chú giải Sách Thánh có tính hệ thống, nhưng nó vẫn chỉ là một chú giải dựa trên một lược đồ có tính nhân tạo và chọn lựa tùy tiện một số bản văn Thánh Kinh để làm cột trụ. Thật trớ trêu, niềm tin của chủ nghĩa cơ yếu vào thuyết phân thời cũng dẫn tới việc tối thiểu hóa bốn Sách Tin Mừng trong so sánh với những phần khác của Tân Ước (các Thư Phaolô, Sách Khải Huyền). Việc chủ nghĩa cơ yếu đề cao chỗ đứng của Thánh Kinh trong đời sống Kitô hữu thực ra che giấu ý hướng thực nhằm tạo ra một hệ thống thống nhất cố gắng thiết định những câu trả lời đơn giản cho các vấn đề của đời sống. Thánh Kinh cung ứng một công cụ thuận tiện, nhưng nó được sử dụng một cách nghịch lý để làm chỗ dựa cho một hệ thống hoàn toàn xa lạ với chính Thánh Kinh. Đây là điểm không nhất quán nghiêm trọng trong chủ nghĩa cơ yếu.
(4) Chủ nghĩa cơ yếu cũng tạo ra “một qui điển trong một qui điển”, và do đó giới hạn Thánh Kinh vào chỉ một loạt những bản văn quan trọng để ủng hộ cho hệ thống của chủ nghĩa cơ yếu trong khi phớt lơ những bản văn khác vốn có thể thách đố những giả định của chủ nghĩa này. Điều này được thấy rõ ràng trong việc tiếp cận các lời tiên tri của Thánh Kinh. Văn chương tiên tri của Thánh Kinh thì quan trọng hơn nhiều so với văn chương khôn ngoan. Có một nhãn giới chật hẹp về các lời tiên tri đến mức coi đó chỉ như là những lời báo trước và những sự ứng nghiệm mà thôi, mà chẳng quan tâm mấy đến bối cảnh lịch sử của những lời tiên tri ấy. Các ngôn sứ trong Cựu Ước nhìn dân tộc của các vị trong chính thời đại của các vị với một tương lai gần, chứ không phải một tương lai xa lắc – chắc chắn là không hơn hai ngàn năm sau đó. Việc áp dụng những lời tiên tri trước hết tùy thuộc vào sự nhận hiểu nó trong bối cảnh lịch sử của nó, trước khi cố gắng vận dụng nó cho ngày hôm nay.
Cũng vậy, những người theo chủ nghĩa cơ yếu có những bản văn căn bản (thường là trong The Authorized King James Version) được thường xuyên qui chiếu để làm xương sống cho niềm tin của họ. Gioan 3,16 (“Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi…”), Rôma 10,9 (“Nếu anh em không tuyên xưng Chúa Giêsu bằng miệng…”), Gioan 3,3 (“Nếu không sinh lại…”) là những câu thường xuyên được trích dẫn mà không quan tâm đến các câu khác làm nên sắc thái ý nghĩa cho bản văn. Chúng ta cũng cần ghi nhận rằng khuynh hướng chọn một số câu văn giới hạn không phải là điều chỉ thấy nơi những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Đa số các Kitô hữu đều có những bản văn Thánh Kinh mà mình ưa thích, và họ thường xuyên trích dẫn những bản văn ấy. Tất cả các giáo phái đều có một số bản văn chìa khóa cho căn tính của mình. Người Công Giáo có truyền thống bảo vệ chức vị Giáo Hoàng , các bí tích, và cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội nhờ một số bản văn trong Thánh Kinh. Mối nguy hiểm của cách làm đó là việc ‘lấy chữ làm chứng’, nghĩa là tìm cách biện minh cho lập luận của mình bằng những bản văn Thánh Kinh có sức “chứng minh” cho điều mình chọn. Việc tạo ra một qui điển ở trong qui điển luôn luôn là một con dao hai luỡi, vì nó phớt lơ những bản văn khác có thể cho thấy ý Thiên Chúa từ một viễn tượng hoàn toàn khác. Đó là lý do tại sao nguyên tắc Công Giáo đối với việc đọc Thánh Kinh là phải đọc trong bối cảnh toàn bộ của qui điển, chứ không chỉ cục bộ, và trong bối cảnh rộng hơn của giáo huấn Giáo Hội – và nguyên tắc này rất hữu ích để giúp có một cách tiếp cận khách quan hơn đối với Sách Thánh.
(5) Một điểm yếu có liên hệ đến điểm vừa nói trên, đó là khuynh hướng cào bằng thẩm quyền của mọi phần trong Thánh Kinh. Thánh Kinh nói một điều gì đó, tức thì những người theo chủ nghĩa cơ yếu nghĩ rằng điều đó phải có một ứng dụng trong thế giới ngày nay. Thế nhưng đây chính là cái gây khó khăn cho những người cơ yếu khi giải quyết những mâu thuẫn trong các bản văn Thánh Kinh. Không có chỗ cho sự phát triển của truyền thống hay của một nhãn quan luân lý – thế mà trong thực tế truyền thống và nhãn quan luân lý đã thay đổi qua suốt bao thế kỷ mà Thánh Kinh được hình thành. Trích dẫn câu “mắt đền mắt, răng đền răng” (Xh 21,24; Lv 24,19-20) để làm nguyên tắc cho sự trừng phạt công bằng, đó là một chuyện. Còn trích dẫn việc Đức Giêsu bãi bỏ nguyên tắc ấy (Mt 5,39) thì lại là một chuyện khác . Cả hai đều ở trong Thánh Kinh, nhưng chúng chắc chắn có những ý nghĩa và những giá trị khác nhau. Cũng tình trạng tương tự như thế, việc những vấn đề nhỏ được đẩy tới cấp độ của một giáo huấn quan trọng mà không xét tới cấp độ của các giáo huấn (chẳng hạn, Thánh Phaolô dạy rằng các phụ nữ phải che đầu, 1Cr 11,10). Không phải mọi sự trong Thánh Kinh đều có cùng giá trị như nhau.
(6) Một hạn chế khác nữa của chủ nghĩa cơ yếu, đó là nó không trân trọng chiều kích nhập thể của đức tin. Tôi không có ý đề cập đến giáo thuyết về nhập thể, tức giáo thuyết dạy rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, nhưng là khía cạnh nhập thể của đức tin Kitô giáo vốn đòi có một sự quân bình giữa tính thần linh và tính nhân loại. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu không quan tâm đến tính lưỡng diện rằng Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa trong ngôn ngữ của nhân loại. Mặc dù Thánh Kinh chứa sứ điệp của Thiên Chúa, song chính lời của con người diễn tả sứ điệp ấy, và ngôn ngữ của con người có những giới hạn cần phải được sáng suốt nhận định. Đó là lý do tại sao các nhà chú giải phải hết sức chú ý đến các thể văn, từ vựng, cấu trúc câu, vv… Chính tình trạng thiếu nhãn quan nhập thể này đã ảnh hưởng trên cách mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu nhìn Đức Giêsu Kitô. Họ quá nhấn mạnh đến khía cạnh thần linh và do đó không lưu tâm đủ đến khía cạnh nhân loại.
Có một lần, khi tôi đang dạy một lớp Kitô học (học về Đức Giêsu trong tư cách là Đấng Kitô, Đấng Mêsia), trong lớp có sự hiện diện của một số người thuộc chủ nghĩa cơ yếu, một câu hỏi đã được nêu lên về sự hiểu biết của Đức Giêsu. Cụ thể, có người hỏi phải chăng Đức Giêsu biết đọc biết viết. Tôi giải thích rằng chứng cứ Thánh Kinh cho thấy Đức Giêsu có lẽ biết đọc (x. Lc 4,16-20), ít nhất là đọc tiếng Hípri, tiếng Aram, và có lẽ một ít tiếng Hy lạp Koinê, ngôn ngữ phổ thông của thời ấy. Một trong những người theo chủ nghĩa cơ yếu có mặt trong lớp kịch liệt phản đối. Anh ta nói rằng vì Đức Giêsu là Thiên Chúa, đương nhiên Người biết tất cả mọi ngôn ngữ! Khi tôi cố giải thích quan điểm của tôi dựa trên chứng cứ Thánh Kinh, anh ta cực lực phủ nhận và đứng dậy bỏ đi. Anh ta đã quá thu rút thần tính của Đức Giêsu vào nhân tính của Người đến nỗi anh chủ trương điều mà một lạc giáo ngày xưa đã chủ trương: monophysitism (thuyết nhất tính) – tức tin rằng Đức Giêsu chỉ có thiên tính mà thôi. Đức tin Kitô giáo chính tông rất lưu tâm đến khía cạnh nhập thể của mạc khải, trong liên hệ đến cả Đức Giêsu Kitô lẫn Thánh Kinh. Giáo thuyết Kitô giáo yêu cầu bảo vệ sức căng giữa một khía cạnh của một sự thật và một khía cạnh khác. Nó bao gồm hàng loạt những xác quyết “cả…lẫn…” hơn là những xác quyết “hoặc… hoặc…”.
(7) Những người theo chủ nghĩa cơ yếu loại bỏ hoặc thẳng thừng chống lại vai trò của Giáo Hội, đây là một hạn chế khác nữa. Quá nhấn mạnh đến đức tin cá nhân, không quan tâm đến khía cạnh cộng đoàn của đức tin, những người theo chủ nghĩa cơ yếu bôi bác vai trò của Giáo Hội – và khi làm thế, họ rõ ràng xâm phạm đến tinh thần của Thánh Kinh. Nếu chúng ta chỉ đọc các Thư Phaolô hay Công Vụ Tông Đồ, chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của “Giáo Hội” trong tư cách là cộng đoàn các môn đệ. Đành rằng có những lạm dụng của thứ tôn giáo quá thiên về cơ chế đã len vào trong các Giáo Hội có tổ chức, song người ta không thể tiên thiên phủ nhận tầm quan trọng của cộng đoàn Giáo Hội.
Trong Đại Năm Thánh 2000, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã kêu gọi các tín hữu Công Giáo nhìn nhận tội lỗi của mình và tội lỗi của cha ông mình qua các thời đại. Các vị lãnh đạo và các thành viên trong Giáo Hội chẳng thể nào hoàn toàn hoàn hảo được. Thật thú vị, một số giáo phái Tin Lành đã theo sự hướng dẫn này và đã làm tương tự. Chiều kích cộng đoàn của đức tin Kitô giáo hiện lộ rõ ràng trong những cử chỉ như thế. Nhãn quan của chủ nghĩa cơ yếu, đàng khác, phớt lơ chiều kích cộng đoàn này của ơn cứu độ và nhấn mạnh quá mức về sự cứu độ của cá nhân.
(8) Cuối cùng, tôi thấy chủ nghĩa cơ yếu thiếu trân trọng đối với mầu nhiệm. Khuynh hướng muốn mọi sự được giải thích bằng lý luận rạch ròi và không chừa chỗ cho những vấn nạn hay những hàm hồ, đó là một khuynh hướng có sức phá hoại nghiêm trọng đối với khả năng sống trong thế giới hiện đại của những người cơ yếu. Thánh Kinh không phải là một quyển sách “trả lời bói toán”. Nó không phải là một lá bùa. Nó không cung cấp giải pháp cho mọi vấn đề mà con người có thể đặt ra. Có những lúc chúng ta phải nhìn nhận những giới hạn của mình và cậy dựa vào ân sủng Thiên Chúa. Rốt cục, nhiều khi chúng ta phải nhìn nhận rằng ý định của Thiên Chúa vẫn là một mầu nhiệm, và chúng ta sẽ phải chờ đợi những vén mở khác nữa của mầu nhiệm ấy. Trong khát vọng có được sự chắc chắn , những người theo chủ nghĩa cơ yếu có khuynh hướng phớt lờ mầu nhiệm để tìm kiếm sự giải thích chặt chẽ theo lý luận đối với mọi khía cạnh của đức tin Kitô giáo. Không chừa chỗ nào cho “bất ngờ”. Cách tiếp cận này gói mầu nhiệm vào một chiếc túi gọn gàng, có thể được giải thích và tiêu hóa dễ dàng. Trong bản chất, điểm yếu này là một điểm yếu về nhận thức luận. Nhận thức luận (epistemology) là một từ được tạo ra để chỉ về triết lý của sự tri thức. Đó là một khoa nghiên cứu những gì con người có thể biết được và cách mà con người nhận thức chính mình và thế giới. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu tin rằng họ có thể biết tuyệt đối chắc chắn thánh ý Thiên Chúa, nhất là như thánh ý đó được mạc khải trong Thánh Kinh. Nhưng việc biện phân thánh ý Thiên Chúa thì không luôn luôn đơn giản như cách nghĩ của những người theo chủ nghĩa này.
Khuynh hướng thích thú với những kỳ vọng có tính khải huyền nơi những người cơ yếu là một trường hợp điển hình. Chẳng hạn, thay vì miệt mài cố suy nghĩ và phỏng đoán về bản chất của các biến cố hồi thế mạt, đa số các Kitô hữu đơn giản chấp nhận rằng chúng ta không biết. Chính một số bản văn Thánh Kinh làm cơ sở cho cách nghĩ ấy. Phaolô cảnh giác một số cộng đoàn của ngài về sự vô ích của việc suy đoán về hồi tận thế bởi vì nó sẽ đến “như kẻ trộm trong đêm tối” (1Tx 5,1-2). Đức Giêsu từng củng cố cho lời khuyến cáo này bằng cách lưu ý rằng chỉ một mình Thiên Chúa Cha biết thời điểm tận cùng ấy (Mc 13,32; Mt 24,36). Chúng ta không cần biết mọi chi tiết về thời điểm và về cách thế Vương Quốc Thiên Chúa sẽ đến. Chỉ cần kiên vững trong niềm trông cậy cho đến khi Đức Giêsu đến trong vinh quang là đủ. (1Cr 11,26)
Tôi đã cố gắng đánh giá những thuận nghịch của chủ nghĩa cơ yếu một cách khách quan, nhưng trong tư cách là một tín hữu Công Giáo Rôma, rõ ràng tôi thấy là những hạn chế của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh lồ lộ hơn rất nhiều so với những điểm mạnh. Tôi cũng nhận ra rằng những vấn nạn thực tiễn vẫn còn đó về cách mà người Công Giáo phải ứng phó với sự thách đố hiện nay được đặt ra do những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Đó là vấn đề mà chúng ta sẽ bàn đến trong chương cuối cùng của tập sách này.
============================
[1] xem Dean M. Kelley, Why Conservative Churches Are Growing, New York: Harper & Row, 1972
[2] The Interpretation of the Bible in the Church, Rome: Pontifical Biblical Commision, 1993, I.F
[3] được trích dẫn trong Richard John Neuhaus, Biblical Interpretation in Crisis, Grand Rapids, Mich.:Eerdmans, 1989, 140.
Trên đây tôi đã cảnh giác về những giới hạn của khoa minh giáo khi liên hệ với chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh. Tuy nhiên tôi cũng biết rằng nhiều người Công Giáo muốn có được sự hướng dẫn nào đó liên quan tới một số vấn đề chuyên biệt mà các người thân hay bạn bè của họ đặt ra. Nhằm mục đích đó, tôi đưa ra những lời khuyên sau đây liên quan tới một số câu hỏi chính yếu mà tôi nghĩ là thường nổi lên khi gặp gỡ những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Tôi nhấn mạnh rằng cách tốt nhất để giải quyết những vấn đề này là học hỏi và nắm vững Thánh Kinh hơn – để biết Thánh Kinh dạy gì và không dạy gì.
Nói “các truyền thống của con người”, những người theo chủ nghĩa cơ yếu thường có ý nói đến toàn bộ các giáo thuyết hình thành nên cơ sở của đức tin Công Giáo, và họ cho rằng những giáo thuyết này không có trong Thánh Kinh. Câu trả lời cho vấn nạn này sẽ bao gồm hai vấn đề. Một là, ngược với cảm nhận của những người cơ yếu, người Công Giáo thực sự là những Kitô hữu tin vào Thánh Kinh. Người Công Giáo tin rằng Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa, rằng Thánh Kinh chứa đựng nhiều giáo huấn thiết yếu về đức tin và luân lý, và rằng Thánh Kinh hết sức cần thiết cho đời sống tâm linh. Kể từ Vatican II, người Công Giáo cũng luôn luôn cử hành mọi bí tích với ít nhất một bài đọc nào đó rút từ Thánh Kinh. Quan trọng nhất là việc cử hành Bí Tích Thánh Thể. Trong mỗi Thánh Lễ, người Công Giáo lắng nghe các trích đoạn Thánh Kinh được sưu tập vào một cuốn sách gọi là Sách Bài Đọc. Vào ngày Chúa Nhật, người Công Giáo nghe ba Bài Đọc và một Thánh Vịnh đáp ca; vào các ngày trong tuần, người Công Giáo nghe hai Bài Đọc và một Thánh Vịnh đáp ca. Một trong các Bài Đọc ấy luôn luôn được trích từ một trong bốn sách Tin Mừng thuộc qui điển. Các linh mục (hay các nhà giảng thuyết khác) cũng được kỳ vọng đưa ra ít nhất một suy tư ngắn về các Bài Đọc này để giải thích chúng và ứng dụng chúng vào đời sống thường ngày. Giáo Hội cũng khuyến khích các tín hữu Công Giáo thường xuyên đọc, nghiên cứu, và cầu nguyện dựa vào Thánh Kinh.
Còn một vấn đề thứ hai nữa liên quan đến ý niệm “các truyền thống của con người”. Người Công Giáo không tin rằng các giáo huấn của Giáo Hội là thuần túy có nguồn gốc nhân loại. Cũng như khi chúng ta chấp nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc linh hứng Thánh Kinh, chúng ta cũng tin rằng Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội trong các giáo huấn của Giáo Hội để tránh rơi vào sai lầm trong những vấn đề thuộc đức tin hay luân lý. Chúng ta tin rằng Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội trong việc thiết định các giáo thuyết của Giáo Hội qua dòng thời gian. Cũng chính Chúa Thánh Thần là Đấng gìn giữ để giáo huấn của Giáo Hội không chứa những sai lầm về đức tin hay luân lý Những người theo chủ nghĩa cơ yếu tưởng rằng sự cậy dựa của họ vào Thánh Kinh không đặt trên cơ sở “các truyền thống của con người”, nhưng điều đó không hoàn toàn đúng. Như tôi đã ghi nhận trước đây, một thoáng nhìn qua những giáo huấn chứa đựng trong quyển The New Scofield Study Bible cũng đủ cho thấy rằng các chú giải trong đó là những chú giải của con người, không nhất thiết gắn liền với điều mà Thánh Kinh thật sự muốn nói. Vì thế, thật là nghịch lý, nhiều niềm tin của chủ nghĩa cơ yếu (như bảy giai đoạn phân thời, sự kiện “được chụp bắt và đem đi”, vv…) là những chú giải của con người đúng hơn là những mạc khải thần linh.
Nhiều lần người ta chất vấn tôi như thế. Thường thì họ muốn tìm ra những chỗ trong Thánh Kinh mà họ có thể kiếm được một ý tưởng chuyên biệt nào đó để phủ nhận điều mà một người theo chủ nghĩa cơ yếu quyết bảo vệ. Tôi đã cảnh giác ở trên đây rằng có một mối nguy dùng những trích dẫn Thánh Kinh làm ‘đạn’ để ‘bắn’ nhau. Rồi chẳng đi tới được đâu cả! Nhưng đôi khi người Công Giáo cũng cần được giúp đỡ để biết bằng cách nào họ có thể tìm thấy một bản văn Thánh Kinh mà họ nhớ cách lơ mơ.
Tôi sẽ chỉ cho bạn một bí quyết nhỏ. Tìm một bản văn cụ thể nào đó trong Thánh Kinh thực ra không khó lắm. Bạn chỉ cần có một bảng từ mục Thánh Kinh. Một bảng từ mục là một danh mục các từ, tương ứng với một bản dịch Thánh Kinh nào đó, bảng từ mục này sẽ cho biết tất cả những câu Thánh Kinh nào có chứa từ ấy. Nếu ta biết một từ chủ yếu của một câu Thánh Kinh, thì chỉ còn một việc là tra từ mục nói trên. Tuy nhiên, đây có thể là một công việc đầy cạm bẫy. Nếu bạn không có sẵn bảng từ mục, bạn có thể tìm trong thư viện, song nó phải đúng là từ mục của bản dịch Thánh Kinh mà bạn sử dụng. Dĩ nhiên, các học giả sử dụng các từ mục bằng tiếng Hy lạp và Hípri cho các ngôn ngữ gốc, nhưng nguyên tắc cũng vẫn tương tự trong ngôn ngữ của bạn. Có nhiều loại từ mục sẵn bán tại các hiệu sách bán lẻ, dành cho những bản dịch Thánh Kinh nhất định.
Ví dụ, vấn đề của chúng ta là cần biết chỗ nào trong Thánh Kinh nói rằng bạn “phải tuyên xưng bằng môi rằng Đức Giêsu Kitô là Đức Chúa”? Những từ chủ yếu ở đây là “tuyên xưng” và “môi”. Nếu bạn tra từ “Giêsu” hay “Đức Chúa” thì bạn sẽ choáng ngợp vì có quá nhiều bản văn chứa các từ ấy. Điều quan trọng là bạn phải nắm chắc rằng những từ mà bạn cần tra là những từ thực sự được dùng trong bản dịch. Chẳng hạn, bản The New Revised Standard Version dịch như cách trên (Rm 10, 9). Thế nhưng, bản New American Bible lại dịch: “Nếu anh em không tuyên xưng bằng miệng …”! Như vậy, bạn sẽ tìm thấy bản văn bằng cách lục tìm động từ “tuyên xưng” hay danh từ “miệng” chứ không phải danh từ “môi”.
Đối với những ai sử dụng máy vi tính, việc tìm các bản văn sẽ càng dễ dàng và nhanh chóng hơn nữa. Có nhiều chương trình phần mềm Thánh Kinh ngoài thị trường, khá rẻ và dễ dùng, có thể giúp tìm kiếm các từ và còn có nhiều chức năng khác nữa. Nếu bạn thực sự muốn biết điều gì đó được nói ở đâu trong Thánh Kinh, bạn hãy làm quen với một dạng từ mục nào đó.
Những người theo chủ nghĩa cơ yếu hiểu sát mặt chữ lệnh truyền của Đức Giêsu trong Tin Mừng Matthêu về việc “đừng gọi ai dưới đất là Cha, vì anh em chỉ có một Cha, Đấng ngự trên trời” (23,9). Họ không hiểu tại sao người Công Giáo lại bất chấp bản văn này và gọi các linh mục là “Cha”. Trước hết, chúng ta cần ghi nhận rằng bối cảnh của bản văn Matthêu đề cập tới thói giành quyền ưu tiên vô lối và thói vênh vang. Đức Giêsu đang chống lại những người cho rằng tước hiệu và địa vị đặt họ vào chỗ trên người khác, dù tước vị đó là rabbi, thầy, cha, bác sĩ, học giả hay bất cứ tước vị nào khác. Vấn đề không phải là theo sát mặt chữ để tránh tiếng “Cha”, nhưng là tránh sự thống trị trên người khác bằng cách dựa vào một danh dự hay tước vị bên ngoài, mà quên chức vị đích thực của mình là làm tôi tớ phục vụ người khác.
Với thuật ngữ “Cha”, Đức Giêsu cũng đang nhắc đến điều vốn thường được nhấn mạnh trong Tin Mừng Matthêu, đó là Thiên Chúa là người Cha đích thực của tất cả mọi người. Ở đây không hề phủ nhận “những người cha” dưới đất. Đúng hơn, Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ từ bỏ mọi mối quan hệ gia đình (Mt 4,22) và đi vào một gia đình mới, gia đình của các môn đệ (Mt 12,46-49), cùng nhau cậy dựa vào một Cha trên trời, Đấng chúc phúc và quan phòng chăm sóc họ (x.Mt 6,9). Lệnh truyền trên kia của Đức Giêsu, vì thế, không phải là đào thải từ “Cha” ra khỏi ngôn ngữ của con người (dù là “cha” huyết thống hay “cha” đại diện), nhưng là đặt nó trong viễn tượng đúng của nó tương ứng với vai trò làm cha của Thiên Chúa. Vả lại, chỗ khác trong Tân Ước còn cho thấy rằng khuôn mặt người cha không bị loại bỏ trong Giáo Hội sơ khai. Chẳng hạn, Phaolô rõ ràng tự ví mình như người cha trong quan hệ với những người mới trở lại (1 Cr 4,15; Pl 2,22). Không phải như vậy là Phaolô đang bác bỏ lời nhắc nhở của Chúa Giêsu. Thay vào đó, trong 1Cr 4,14-17 Phaolô sử dụng ẩn dụ về một người cha và “các con yêu dấu của mình” để nói về cả tình yêu và sự hướng dẫn mà ngài trao cho họ như là những đứa con thiêng liêng (Hy ngữ: teknon). Phaolô sử dụng ẩn dụ ấy một cách tuyệt vời, ngài dám nói: “Trong Đức Kitô Giêsu, tôi đã trở thành cha của anh em nhờ Tin Mừng” (1Cr 4,15).
Vì thế, người Công Giáo sử dụng từ “Cha” để gọi các linh mục do lòng kính trọng chức vụ linh mục của các vị ấy và do muốn nhấn mạnh ý nghĩa đích thực của gia đình các môn đệ mà Đức Giêsu đã qui tụ nhân danh chính Người. Các linh mục không được kỳ vọng sử dụng chức vị của mình để tìm vinh dự, nhưng là để phục vụ các anh chị em mình (Mt 20,26) là những người mà các vị chăm sóc như cha săn sóc con cái và như mục tử săn sóc đoàn chiên (Mt 9,36).
Người Công Giáo không thờ Đức Maria và các thánh. Những người không Công Giáo đôi khi có ấn tượng sai lầm rằng chúng ta làm thế, nhưng cùng với tất cả các Kitô hữu khác, chúng ta tin rằng chỉ một mình Thiên Chúa mới đáng được phượng thờ. Chúng ta tôn kính Đức Maria và các thánh bởi vì chúng ta tin rằng các ngài nêu mẫu gương đức tin tuyệt vời cho chúng ta. Tin Mừng Luca, chẳng hạn, khắc họa hình ảnh Đức Maria một cách tuyệt vời trong vai trò làm mẫu gương cho người môn đệ, vì Mẹ là người hoàn toàn lắng nghe và thi hành thánh ý Thiên Chúa. Thái độ sẵn sàng thưa “Vâng” trước thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa nơi Đức Maria cung ứng cho chúng ta tấm gương bậc nhất về tinh thần người môn đệ (Lc 1,26-38; cf.6,46-48). Giáo Hội vẫn nhìn nhận các thánh và tuyên phong thêm các thánh mới để cho thấy rằng ân sủng của Thiên Chúa vẫn dồi dào nơi các chủng tộc và các quốc gia khác nhau, ân sủng ấy vẫn mở ra cho mọi người trên mọi nẻo đường cuộc sống, mọi truyền thống văn hóa, mọi hoàn cảnh cá nhân. Những ảnh tượng của những người nam và nữ thánh thiện được sử dụng bởi vì chúng cung cấp các hình ảnh cụ thể giúp làm chất liệu suy tư cho người ta. Người Công Giáo không hề thờ phượng các đồ vật như thế.
Vì người Công Giáo không tin rằng Thánh Kinh không sai lầm trong những điều thuộc khoa học hay lịch sử. Người Công Giáo không bị lúng túng bởi thuyết tiến hóa của khoa học hiện đại. Chúng ta không xem thuyết tiến hóa như là một cái gì mâu thuẫn với Thánh Kinh. Chúng ta cũng không xem trình thuật sáng tạo trong Sách Sáng Thế như là một giải thích hiểu theo nghĩa đen về cách thế mà vũ trụ xuất hiện. Bao lâu chúng ta tin rằng điều quan trọng nhất là Thiên Chúa nằm đằng sau công cuộc sáng tạo và rằng công cuộc sáng tạo ấy là tốt đẹp, thì chúng ta vẫn nhìn nhận rằng các giải thích khoa học đáng tin cậy theo mức độ chứng cứ mà chúng có thể cung cấp. Trong một dịp nói chuyện với Viện Hàn Lâm Khoa Học Giáo Hoàng (22 tháng 10, 1996), Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chính thức tuyên bố rằng thuyết tiến hóa không mâu thuẫn với Thánh Kinh và không đối nghịch với đức tin Công Giáo.
Trước hết, như đã đề cập ở chương 3, người Công Giáo chúng ta không chấp nhận rằng mọi sự trong đức tin của chúng ta phải nảy ra từ Thánh Kinh. Vì thế tiên vàn chúng ta phải nhìn nhận rằng chúng ta có những điểm xuất phát hoàn toàn khác.
Về vấn đề cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, người Công Giáo tin rằng chức vị Giáo Hoàng , giám mục, linh mục, phó tế, và đời sống tu trì đã phát triển qua thời gian theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúng ta xem những cấu trúc này như được cắm rễ trong Tân Ước ngay cả khi chúng ta thấy rằng Tân Ước không có một phác họa rõ ràng nào cho chúng. Người Công Giáo tin rằng Lời của Chúa Giêsu nói với Phêrô trong Tin Mừng Matthêu (16,16-19, “Simon, phúc cho anh… Anh là Đá và trên Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy…”) tạo thành nền tảng cho sứ vụ của Phêrô, gốc tích của sứ vụ Giáo Hoàng , một sứ vụ lãnh đạo và thăng tiến mối hiệp nhất. Những tài liệu khác của Tân Ước xác nhận vai trò lãnh đạo đặc biệt của Phêrô giữa mười hai tông đồ trong tư cách là người phát ngôn của nhóm. Các cuộc đối thoại đại kết với một số cộng đoàn Tin Lành kỳ cựu cũng đã dẫn tới việc họ nhìn nhận vai trò đặc biệt của Phêrô ngay cả dù họ không thiết yếu chấp nhận cơ cấu chức vị Giáo Hoàng .
Hơn nữa, một số tài liệu Tân Ước nói về các giám quản là những người thi hành sứ vụ trong tư cách là những vị giám sát lãnh đạo các Giáo Hội địa phương. Tuy không hoàn toàn giống với các giám mục ngày nay, song các vị giám quản ngày xưa hình thành nền móng cho việc phát triển các chức vụ quản trị bắt đầu xất hiện khi Giáo Hội ngày càng lớn lên thành một tổ chức cần đến vai trò cai quản chính thức. Các tài liệu muộn hơn của Tân Ước (chẳng hạn Tm 1-2, Tt) cho thấy tính cơ chế hóa tăng dần lên này, dẫn tới việc bổ nhiệm các “giám mục Công Giáo”. Dù sao, một lần nữa, chúng ta phải xác nhận với những người theo chủ nghĩa cơ yếu rằng chúng ta không tin rằng các cơ cấu Giáo Hội hiện nay cần phải hoàn toàn tương hợp với các bản văn Thánh Kinh.
Câu hỏi này có thể gay cấn, được đặt ra bởi những người theo chủ nghĩa cơ yếu tin vào tính bất khả ngộ của Thánh Kinh. Dĩ nhiên, vấn đề là họ chất vấn làm sao một con người có thể bất khả ngộ. Chúng ta phải trình bày giáo huấn Công Giáo về tính bất khả ngộ của Giáo Hoàng , một giáo huấn được xác định tại Công Đồng Vatican I vào thế kỷ 19, chỉ áp dụng khi Giáo Hoàng đưa ra những tuyên bố ex cathedra,[3] ở đây rõ ràng có nghĩa là khi tuyên bố một giáo huấn tín lý chính thức cách long trọng. Trường hợp này chỉ mới được thực hiện hai lần trong lịch sử Giáo Hội, đó là việc tuyên bố tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội (1854) và tín điều Đức Maria Hồn Xác Lên Trời (1950). Người Công Giáo tin rằng Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội khi đưa ra những tuyên bố như thế, cũng như Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn các tác giả Sách Thánh trong việc truyền đạt chân lý trong các lãnh vực đức tin và luân lý. Trong mỗi trường hợp như vậy, Thiên Chúa là người bảo vệ sự thật. Còn con người là khí cụ qua đó sự thật được thông truyền. Như vậy, dù là tính bất khả ngộ của giáo huấn Giáo Hoàng hay là chân lý tôn giáo của Thánh Kinh, thì nguồn gốc vẫn là thẩm quyền của Thiên Chúa.
Cần lưu ý một điểm rằng nhiều người Công Giáo lầm tưởng bất cứ điều tuyên bố nào của Giáo Hoàng cũng đều bất khả ngộ và đều phải được tin. Sự thật không phải như vậy. Người Công Giáo tin vào một hệ thống thang bậc các chân lý, một số chân lý là nòng cốt đối với đức tin và một số khác thì không quan hệ mấy với đức tin. Không phải mọi giáo huấn đều có trọng lượng ngang bằng nhau. Một lần nữa, người Công Giáo nhìn nhận rằng giáo thuyết bất khả ngộ không ở trong Thánh Kinh. Tuy nhiên, chúng ta tin rằng lời hứa của Đức Giêsu với Phêrô, vốn củng cố vai trò Giáo Hoàng của Phêrô (Mt 16,16-19) có tác dụng như một đảm bảo rằng Thiên Chúa sẽ không bao giờ để cho Giáo Hội đi trệch đường trong các tuyên bố tín lý của mình.
Đối ngược với nhiều người theo chủ nghĩa cơ yếu vốn nhìn Giáo Hội với con mắt dửng dưng hoặc xem thường, người Công Giáo tin rằng Giáo Hội là một phần thiết yếu của chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Giáo Hội là Dân Thiên Chúa, là cộng đoàn của các môn đệ Chúa Giêsu, được gọi để chuyển trao sứ điệp của Chúa Giêsu cho thế giới bằng đời sống của mình, bằng chứng từ và bằng việc cử hành Lời Chúa và các bí tích. Nhiều bản văn trong Tân Ước nói về Giáo Hội. Cách riêng, người Công Giáo xem bản văn Matthêu 16,16-18 là bản văn chính yếu cho thấy sự thành lập Giáo Hội, nhưng nhiều bản văn khác cũng nói về các vai trò của Giáo Hội (Cv 20,28; Ep 3,10; Tm 3,15, vv…). Người Công Giáo tin rằng chính Cựu Ước cũng báo trước về Giáo Hội khi Cựu Ước cho thấy nhân loại như một gia đình mà Thiên Chúa muốn qui tụ thành một cộng đoàn hiệp nhất, và trong việc tập hợp dân tộc đặc tuyển, tức dân It-ra-en. Thật vậy, từ ngữ của Tân Ước qui chiếu đến Giáo Hội (Hy ngữ: ekklẽsia, “sự qui tụ, tập hợp, triệu tập”) có gốc ở ekklain (nghĩa là “được tuyển trạch từ”) – một từ bắt rễ từ ý niệm “qui tụ” của Cựu Ước (tiếng Hipri: qahal).
Người Công Giáo nhìn bản thân Giáo Hội như một loại “bí tích” (La ngữ: sacramentum, nghĩa là “mầu nhiệm, dấu hiệu”) – là dấu hiệu hữu hình cho thấy ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa muốn hợp nhất con người thành một gia đình. Bảy bí tích (được liệt kê dưới đây) là những dấu hiệu bên ngoài cho thấy ân sủng vô hình của Thiên Chúa hoạt động trong Giáo Hội và trong thế giới. Người Công Giáo tin rằng mỗi bí tích ấy đều bắt rễ từ Thánh Kinh, nhưng quá trình phát triển của chúng trong lịch sử đã diễn ra dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, cần phải cẩn thận để không rơi vào cái bẫy của não trạng ”lấy chữ làm chứng”. Mặc dù người Công Giáo chúng ta tin rằng các bí tích bắt rễ trong Thánh Kinh, chúng ta cũng không vì thế mà nghĩ rằng mọi sự Giáo Hội làm, dạy, hay tin đều phải được tìm thấy trong các Sách Thánh. Để tham khảo các gốc rễ Thánh Kinh của các bí tích, người ta có thể đọc các bản văn sau đây:
-Bí tích Rửa Tội: Ga 3,5; Cv 2,38
-Bí tích Thánh Thể: 1Cr 11,23-26; Mt 26,17-29; Mc 14,12-25; Lc 22,7-20
-Bí tích Thêm Sức: Cv 2,1-4
-Bí tích Hòa Giải: Ga 20,22-23; 2Cr 5,18
-Bí tích Hôn Phối: St 2,18-25; Ga 2,1-11
-Bí tích Truyền Chức Thánh: Mc 14,12-25 và các đoạn song song; 1Tm 4,14; 2Tm 1,6
-Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân: Gc 5,14
Người Công Giáo chấp nhận Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Độ, nhưng chúng ta không tuyên bố theo kiểu của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Đối với những người cơ yếu, đây là việc tuyên tín cốt lõi nhất. Họ tin rằng họ phải tuyên xưng Chúa Giêsu bằng lời nói cụ thể để được cứu độ. Họ dẫn một bản văn trong Thư Rôma để bảo vệ lập trường của họ (Rm 10,9). Đối với người Công Giáo, tin và diễn tả đức tin là một tiến trình đầy tính dấn thân và phức tạp. Người Công Giáo không quá cường điệu chiều kích cá nhân của ơn cứu độ. Đức Giêsu Kitô đến không chỉ để cứu tôi mà còn để cứu độ thế giới. Ơn cứu độ được chuyển thông qua một cộng đoàn đức tin chứ không chỉ xuyên qua mối tiếp xúc cá nhân với Đức Giêsu. Điều này không hề giảm trừ nhu cầu dấn thân cá nhân nhưng là đặt nó vào trong đúng bối cảnh cộng đoàn của nó.
Không chỗ nào trong Thánh Kinh cấm rửa tội các em bé. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu gặp lấn cấn với việc thực hành này của Công Giáo Rôma bởi vì theo quan điểm của họ, họ nhấn mạnh rằng tự cá nhân người ta cần phải quyết định đi vào Kitô giáo. Vì các em bé không thể thực hiện một quyết định đầy ý thức như thế, nên việc rửa tội cho các em dường như vô nghĩa. Người Công Giáo nhìn việc hoán cải với một nhãn quan rộng rãi hơn. Từ thuở sơ khai của Giáo Hội, các Kitô hữu đã rửa tội cho các em bé. Thánh Kinh có ám chỉ điều này, mặc dù Thánh Kinh không nói một cách minh nhiên. Trong Công Vụ Tông Đồ, chẳng hạn, những câu chuyện cải giáo kể rằng “cả nhà” được nhận Phép Rửa. Các ví dụ điển hình bao gồm Cornelius, viên bách quản Xêdarê, và cả nhà ông ta (Cv 10,47-48), Lyđia, người buôn bán vải điều và cả nhà bà ta (Cv 16,15), viên cai ngục ở Philipphê và “cả gia đình ông ta” (Cv 16,33), Kirspô, thủ lãnh hội đường Corinthô và gia đình (1Cr 1,16; 16,15). Từ “cả nhà” (Hy ngữ: oikos) có nghĩa gì? Nó nhằm bao gồm cả chồng, vợ, con cái, nô lệ, và cả những người trưởng thành tự do. Như vậy hầu chắc là các em bé được bao gồm ở đây, nhưng điều này không bao giờ được chứng thực cách riêng.
Điều đáng nói hơn, đó là người Công Giáo không nhìn Phép Rửa chỉ như một quyết định cá nhân của người trưởng thành. Cha mẹ cho con cái mình nhận Phép Rửa để chúng có thể lớn lên trong đức tin mà cha mẹ ước ao chuyển thông cho chúng. Dĩ nhiên, một lúc nào đó Phép Rửa của người ta phải được đảm nhận (hay được xác nhận) một cách ý thức để đức tin đích thực có thể lớn lên. Người Công Giáo vì thế không coi nhẹ nhu cầu phải có một quyết định và sự dấn thân cá nhân đối với đức tin của mình.
Sở dĩ có câu hỏi này thường là vì người ta nghĩ rằng người Công Giáo không thực sự là những Kitô hữu do bởi không chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất của cá nhân mình, không xem mình là “được sinh lại”, không sử dụng Thánh Kinh, vv… Bất chấp những tố cáo của những người theo chủ nghĩa cơ yếu, người Công Giáo vẫn thực sự là những Kitô hữu. Một cách căn bản, Kitô hữu là bất cứ ai theo Đức Giêsu Kitô và sứ điệp của Người. Nhờ Phép Rửa của chúng ta và qua việc cố gắng biến các giáo huấn của Đức Giêsu thành hành động, người Công Giáo không kém “Kitô hữu” hơn bất cứ ai khác bước theo Chúa Giêsu.
Dĩ nhiên, đức tin liên quan tới nhiều thứ hơn chứ không chỉ là một sự chấp nhận bằng môi miệng. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu lấy ý niệm “được sinh lại” làm trung tâm của đức tin của họ. Người Công Giáo không chống ý niệm về việc được sinh lại. Đành rằng đó là một phần thuộc giáo huấn của Đức Giêsu trong Tin Mừng Gioan, song cần ghi nhận xem ý tưởng này được Tân Ước đề cập đến thường xuyên tới mức độ nào. Chúng ta nên khảo sát bản văn nòng cốt (Ga 3,3-6) kỹ lưỡng hơn một chút.
Khi Đức Giêsu bảo Nicôđêmô rằng ông ta phải “được sinh lại” (Hy ngữ: anõthen), Người đang chơi chữ. Chữ ấy vừa có nghĩa “từ trên cao” vừa có nghĩa “lại, lần nữa”. Trong thế giới quan của Gioan, Đức Giêsu là Đấng đã đến “từ trên cao” (thiên quốc), và Người sẽ trở về đó, và cuối cùng Người sẽ qui tụ tất cả các môn đệ của Người ở đó. Đức Giêsu xuống thế giới này để cho thấy những giới hạn của thế giới và lôi cuốn sự quan tâm đến thế giới trên cao. Nicôđêmô không hiểu câu nói ấy, tưởng rằng mình phải chui trở vào bụng mẹ để được sinh lại! Như vậy ý niệm được sinh lại “lần nữa” thực ra là một sự hiểu lầm. Chúa Giêsu có ý nói rằng Nicôđêmô phải được sinh lại cách mới mẻ, tinh khôi, với ánh sáng đức tin vào Chúa Giêsu. Người tiếp tục gắn kết ý niệm đó với việc sinh lại “bằng nước và Thánh Thần”, một ám chỉ rõ ràng đến Phép Rửa. Vì thế, được sinh lại “từ trên cao” bao gồm việc được Rửa tội và đón nhận đức tin vào Đức Giêsu Kitô. Thật đáng ngạc nhiên, đa số những người theo chủ nghĩa cơ yếu không hề nối kết các ý niệm về Phép Rửa và hoán cải, bất chấp chứng cứ Thánh Kinh cho thấy rõ ràng sự nối kết đó.
Người Công Giáo có thể chấp nhận ý niệm “được sinh lại” theo nghĩa rằng đức tin đòi hỏi mình phải không ngừng hoán cải, không ngừng trở về với Đức Giêsu Kitô. Điều này có nghĩa rằng phải lấy đời sống tâm linh (sự sống trên cao) làm ưu tiên trên đời sống trần tục (sự sống ở dưới thấp). Mặc dù người Công Giáo chấp nhận Phép Rửa như là biến cố của một thời điểm, họ không tin rằng việc hoán cải của người ta có thể được rút lại chỉ tại một điểm nào đó của thời gian hay không gian, khi người ta “được sinh lại”. Đúng hơn, chúng ta có thể nói rằng chúng ta cần được sinh lại mãi. Người Công Giáo xem việc hoán cải là một tiến trình kéo dài không ngừng suốt cuộc sống. Ân sủng của Thiên Chúa đôi khi có thể tác động đặc biệt mãnh liệt trên đời sống một con người và tạo ra một biến chuyển rất ngoạn mục, nhưng kinh nghiệm thông thường cho thấy đa số người ta trải qua một tiến trình biến chuyển từ từ, chậm rãi trong đời sống của mình vì ân sủng của Thiên Chúa làm việc từ từ để chuyển hóa họ trở thành những con người tốt hơn.[4]
Người Công Giáo không tin rằng họ có thể đạt được ơn cứu độ bằng cách làm các việc lành. Ít nhất, những người Công Giáo sáng suốt sẽ không nghĩ thế! Quan điểm này thường bị hiểu lầm. Trong quá khứ, một số các thực hành của Giáo Hội đã lung lạc người ta, làm họ tin rằng họ có thể một cách nào đó “tóm bắt” được ơn cứu độ. Đây là một trong những mối quan tâm của Martin Luther hồi thế kỷ 16 khi ông kêu gọi sự cải cách trong Giáo Hội. Nhưng giáo huấn Công Giáo chính thức nhìn nhận rằng ơn cứu độ là một ân huệ cho không của Thiên Chúa, được thực hiện một lần thay cho tất cả bởi cuộc nhập thể, cuộc khổ nạn, cái chết và sự Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. Không ai có thể đạt được ơn cứu độ bằng cách làm các việc lành. Thay vào đó, các việc lành của chúng ta cho thấy rằng chúng ta đang biến đức tin thành hành động.
Về phần mình, những người theo chủ nghĩa cơ yếu nhấn mạnh quá mức đến giáo huấn Thánh Kinh về việc tuyên xưng Đức Giêsu là Cứu Chúa của mình đến độ không quan tâm đủ đến các giáo huấn khác của Tân Ước. Thư Giacôbê rõ ràng kêu gọi người ta biến đức tin thành hành động, vì lời nói mà không đi đôi với việc làm thì chỉ rỗng tuếch mà thôi (2,14-22). Về phần mình, người Công Giáo chúng ta nên cẩn trọng để không trao ấn tượng cho những người không Công Giáo rằng chúng ta tin mình sẽ chiếm được chỗ trên thiên đàng bằng những gì mình nói hay làm. Đó là lạc giáo Pelagianism ngày xưa, gọi theo tên của Pelagius, một tu sĩ người Anh vào thế kỷ thứ 5 dạy rằng con người có thể làm việc để đạt ơn cứu độ mà không cần đến ân sủng thiêng liêng. Giáo Hội nhận thấy chủ trương này hoàn toàn không thể được chấp nhận và đã lên án Pelagius và giáo huấn của ông.
Người Công Giáo không xưng thú tội lỗi của họ với vị linh mục. Họ xưng tội với Thiên Chúa. Vị linh mục là một phương tiện chuyên chở, một trung gian, một người giúp cho hối nhân giải quyết tình trạng tội lỗi của mình. Chính Thiên Chúa là Đấng tha thứ cho tội nhân qua lời xá giải được nói lên bởi vị linh mục. Giáo Hội Công Giáo cũng tin rằng chỉ Thiên Chúa mới có quyền tha tội (dù chúng ta được kêu gọi tha thứ cho nhau, như lời Kinh Lạy Cha diễn tả rõ ràng), nhưng chúng ta cũng tin rằng con người chúng ta thường dễ mơ hồ nếu không có cách thức cụ thể để đương đầu với tình trạng tội lỗi của mình. Việc sử dụng một trung gian để giúp người ta trong tiến trình này sẽ đảm bảo một thái độ khách quan và ngăn ngừa khả năng bưng bít các tội lỗi. Người Công Giáo tìm thấy các gốc tích của Bí Tích Hòa Giải trong Thánh Kinh (Ga 20,22-23, “Anh em tha tội cho ai, thì …”), nhưng chúng ta cũng nhìn nhận rằng việc thực hành xưng tội cá nhân đã thành hình khá muộn trong lịch sử Giáo Hội, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Đối với người Công Giáo, hòa giải là một bí tích, một dấu hiệu hữu hình của ân sủng Thiên Chúa tác động trong thế giới và thứ tha tội lỗi.
Người Công Giáo không chấp nhận ý niệm “được chụp bắt và đem đi”. Ý niệm ấy thực ra không được tìm thấy trong Thánh Kinh, dù những người theo chủ nghĩa cơ yếu khẳng định như vậy. Đó là một giải thích cho một bản văn trong 1Thêxalônica trong đó Phaolô mô tả cách sinh động một chuỗi sự kiện xung quanh cuộc xuất hiện lần thứ hai của Chúa (4,16-17). Từ “được chụp bắt và đem đi” (có gốc ở La ngữ: rapere, “nắm, chụp bắt”) phát xuất từ mô tả của Phaolô rằng chúng ta sẽ được “chụp bắt” khi Chúa đến lần thứ hai, lúc mà người chết được sống lại trong sự sống mới trên thiên quốc. Giáo thuyết này của chủ nghĩa cơ yếu có nguồn gốc từ quyển The Scotfield Reference Bible, nơi nó được trình bày lần đầu tiên. Về sau, nó được giải thích chi tiết và được mở rộng. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu thường phát minh ra những mô tả rất tỉ mỉ về cách mà các biến cố cánh chung xảy ra. Bản văn của Phaolô được sử dụng để hỗ trợ cho niềm tin vào sự kiện “được chụp bắt và đem đi” xem ra mập mờ và nằm trong bối cảnh rộng lớn của giáo huấn Phaolô về sự sống lại của kẻ chết. Nó sử dụng những hình ảnh tưởng tượng vốn có tính khải huyền (tiếng gọi của tổng lãnh thiên thần, tiếng vang của kèn đồng, Chúa đến trên các tầng mây) – những hình ảnh này không hề có ý nói rằng đó là một chuỗi những bước lần lượt nối tiếp nhau đưa người ta lên trời. Phaolô không nhằm đưa ra một tiên báo về tiến trình ấy theo nghĩa đen (dù trong bối cảnh lịch sử thời ngài, cũng có thể là ngài hiểu như thế), nhưng là ngài muốn bảo đảm với các tín hữu Thêxalônica rằng Chúa đang đến và họ sẽ được đưa lên trong vinh quang.
Trong khi người Công Giáo bác bỏ ý niệm “được chụp bắt và đem đi”, họ vẫn giữ vững một niềm kỳ vọng quang lâm (Hy ngữ: parousia, “sự đến”), mong đợi Đức Kitô đến lần thứ hai. Người Công Giáo không dệt giả thuyết về thời điểm chung cuộc hay về tiến trình nối tiếp của các biến cố, hoặc về thời gian hay cách thức mà biến cố thế mạt sẽ diễn ra.
Thay vào đó, người Công Giáo chủ trương một niềm kỳ vọng rộng rãi hơn rằng Thiên Chúa sẽ hành động một cách dứt khoát để thiết lập Vương Quốc vĩnh cửu vào thời gian và bằng những cách thức của riêng Ngài. Đồng thời, người Công Giáo kiên vững trong đức tin của mình và không ngừng sửa soạn trong niềm lạc quan hy vọng về chiến thắng chung cục của Thiên Chúa trên sự dữ.
Trên đây chắc chắn không phải là những câu hỏi duy nhất mà người Công Giáo đối diện khi họ gặp gỡ các thân hữu theo chủ nghĩa cơ yếu, nhưng đó là những câu hỏi thường gặp nhất. Tôi không đơn sơ nghĩ rằng những cách trả lời như đã trình bày sẽ thuyết phục một người cơ yếu từ bỏ quan điểm của họ và chấp nhận lôgíc của nhãn quan Công Giáo. Mới đây, tại một cuộc hội thảo, cử tọa đã nêu nhiều câu hỏi liên quan đến những chống đối từ phía những người theo chủ nghĩa cơ yếu nhắm vào đức tin Công Giáo, và tôi đã phác họa những câu trả lời cho các câu hỏi ấy. Một tham dự viên nêu thắc mắc rằng tại sao những người cơ yếu không bị thuyết phục bởi lập luận của tôi. Anh ta nhận xét rằng lập luận của tôi hoàn toàn có lý và có sức thuyết phục. Nhưng, lôgic của người này thì không luôn luôn trong suốt đối với người kia. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu là những người rất cuồng nhiệt. Họ có những xác tín cứng nhắc được xây dựng chặt chẽ qua thời gian và được chọn lựa một cách hoàn toàn ý thức. Chỉ lập luận với họ thôi, dù lập luận có hợp lý và nhã nhặn đến mấy, cũng không luôn luôn có sức làm họ thay đổi. Điều tốt nhất mà chúng ta có thể hy vọng, đó là chúng ta có một lòng nhiệt thành không kém họ, cắm rễ trong một đức tin vững chắc, được nâng đỡ bởi một cách tiếp cận Thánh Kinh có nền tảng – để những người theo chủ nghĩa cơ yếu nhìn nhận rằng người Công Giáo cũng là những Kitô hữu rất tận tâm.
Đối với những bạn đọc nào muốn tìm hiểu xa hơn nữa về chủ đề này, thư mục tham khảo sau đây sẽ hữu ích để giúp bước vào cuộc nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng chủ nghĩa cơ yếu và về những gì mà người Công Giáo có thể làm để ứng phó với chủ nghĩa này. Tuy nhiên, việc đầu tiên và quan trọng nhất là phải gần gũi với Thánh Kinh. Như Thánh Thần đã nói với Thánh Augustinô thuở nào những tiếng nói đã đưa ngài vào con đường hoán cải:
– “Tolle lege” Hãy cầm Sách Thánh lên và hãy đọc. Sách Thánh sẽ biến đổi cuộc đời bạn.
Tác giả: Ronald D. Witherup, S.S.
, Lễ Giáng Sinh 2001
=======================================
[1] Chẳng hạn, Karl Keating, Catholicism and Fundamentalism, San Francisco: Ignatius Press, 1988; Scott and Kimberly Hahn, Home Sweet Rome: Our Journey to Catholicism, San Francisco: Ignatius Press, 1993; và Philip St. Romain, Respuestas Católicas a Preguntas Fundamentalistas, Liguori, Mo.: Liguori Press, 1987.
[2] A Pastoral Statement for Catholics on Biblical Fundamentalism, 7-8
[3] Từ La ngữ, có nghĩa đen là “trên ngai tòa” (thuộc thẩm quyền). Trong truyền thống Do thái cổ, các giáo huấn có thẩm quyền đều được ban ra từ trên ngai tòa.
[4] Để có một giải thích đầy đủ hơn về giáo huấn của Tân Ước đối với sự hoán cải, xin xem thêm Ronald D. Witherup, Conversion in the New Testament, Collegeville: The Liturgical Press, 1994